GS Chu Hảo - Sẽ cho ra lò những “thợ” văn nghệ vô cảm?

17:27 |
“Quyết định bỏ môn Văn khi thi tuyển nói trên chứng tỏ Bộ chỉ muốn đào tạo nên những người thợ vô cảm, chỉ chăm chăm tới những thao tác kỹ thuật chứ không muốn đào tạo nên những nghệ sĩ có tâm hồn” – ý kiến của GS Chu Hảo.

 “Ngày xưa không hiểu thầy giáo môn Văn giảng thế nào mà chúng tôi rất ham mê những bài văn học sử, ca dao tục ngữ, đến thơ văn thời Lý thời Trần. Có rất nhiều bài ca dao, câu tục ngữ, bài thơ khiến chúng tôi nhớ từ thưở mười mấy tuổi ấy đến bây giờ. Thời đó chúng tôi học cách nhìn nhận cuộc đời say mê và trong sáng như thế. Tôi thấy thật đáng tiếc khi không nhiều học sinh thời này thích học Văn”.
 
 GS Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ bắt đầu câu chuyện với chúng tôi xung quanh chuyện Bộ Giáo dục “đuổi” môn Văn ra khỏi các môn thi vào các trường văn hóa-nghệ thuật. Ông cho rằng, coi nhẹ môn Văn là một quyết định tùy tiện vô trách nhiệm.

GS Chu Hảo
GS Chu Hảo

 PV: -Người ta vẫn nói, học Văn là học làm người, nay Bộ cho bỏ thi môn Văn, chỉ xét tuyển dưa trên điểm thi tốt nghiệp, theo ông, liệu có phải do Bộ GD thừa tự tin trong việc dạy và học Văn ở cấp THPT?
 
 GS Chu Hảo:
 -Chương trình giảng dạy môn Văn và kết quả thực sự của học sinh bậc phổ thông còn rất nhiều điều đáng lo ngại. Chúng tôi hoàn toàn tin rằng, Bộ Giáo dục không thể không biết điều đó. Vì thế, việc bỏ thi môn Văn ở các trường năng khiếu chắc chắn không phải sự lạc quan; rằng, dạy và học Văn tốt rồi mà đó là sự tùy tiện, sự thiếu nghiêm túc.
 
 Việc bỏ thi môn Văn vào các trường năng khiếu là một sự bất hợp lý nghiêm trọng, chứ không chỉ là một việc làm tùy tiện thông thường. Bất kỳ ngành học nào đều cần một nền hiểu biết văn hóa nói chung, chưa nói đến các ngành văn hóa nghệ thuật, nơi đào tạo những người sẽ truyền đạt giá trị nhân văn, tốt đẹp thông qua tâm hồn. Tôi xin nói thẳng rằng, quyết định bỏ môn Văn khi thi tuyển nói trên chứng tỏ Bộ chỉ muốn đào tạo nên những người thợ vô cảm, chỉ chăm chăm tới những thao tác kỹ thuật chứ không muốn đào tạo nên những nghệ sĩ có tâm hồn.
 
 PV: -Nhiều vị hiệu trưởng khối các trường năng khiếu lập luận, bỏ thi Văn sẽ giúp các trường không sót nhân tài. Ông bình luận như thế nào về lập luận trên?
 
GS Chu Hảo:- Không bao giờ có chuyện năng khiếu thuần túy lại trở thành nhân tài mà không cần môn Văn. Những người có tài năng thật sự trước hết và nhất thiết phải có tinh thần nhân văn, đặc biệt là lòng trắc ẩn. Chỉ có thế tác phẩm của họ mới đi đến được với công chúng. Đương nhiên nội dung học Văn và thi Văn còn nhiều vấn đề nhưng nếu gạt hẳn nó ra thì chắc chắn là điều tệ hơn.
 
 Một điểm cần nói thêm ở đây là, Bộ Giáo dục nói sẽ căn cứ vào điểm thi tốt nghiệp phổ thông để xét tuyển. Vậy các môn khác thì sao? Cùng lập luận như vậy thì có thể bỏ thi môn Toán các khối A, B, D, bỏ thi môn Văn các khối C, D…
 
 PV: -Xét trên bình diện xã hội, dư luận không khỏi cảm thấy có nhiều điều cắc cớ với quyết định này của Bộ Giáo dục Đào tạo vì hiện đang xảy ra ngày càng nhiểu biểu hiện vô cảm, làm ngơ không cứu giúp người bị nạn. Môn Văn bị thất sủng trong khi bệnh vô cảm lên ngôi, theo ông, làm thế nào để có một lối thoát cho xã hội hiện nay?
 
 GS Chu Hảo: - Khi người ta coi thường môn Văn, người ta đã coi thường khía cạnh quan trọng nhất để hình thành một con người tử tế. Có thể nói, điều này cũng nằm trong xu thế xuống cấp về văn hóa đạo đức của xã hội nói chung, chứ không đơn thuần là một biểu hiện riêng lẻ.
 
 Bệnh vô cảm có nguồn gốc rất sâu xa, bởi những giá trị truyền thống đảo lộn và hệ thống thang bậc mới đang được xã hội chấp nhận lại đề cao tiền bạc, lợi ích vật chất. Muốn chữa lành vô cảm, phải chỉnh lại thang giá trị xã hội. Mà muốn làm điều đó thì phải có một cuộc cách mạng thật sự trong giáo dục.
 
 Như tôi đã nói rất nhiều lần, hệ thống giáo dục quốc dân bị chi phối bởi ba thành phần quan trọng: giáo dục trong nhà trường, giáo dục xã hội chủ yếu thông qua truyền thông và giáo dục gia đình. Hiện cả ba thành tố cấu thành này đều đang chứa đựng nhiều mâu thuẫn và bất cập.
 
Trong giáo dục nhà trường, chúng ta đều phải thừa nhận thực tế là, ngay từ mẫu giáo, các em đã biết bố mẹ đi chạy trường chạy lớp, đưa phong bì để chúng được vào trường tốt, lời khen tặng chúng nhận được không hẳn chỉ phụ thuộc vào năng lực mà có khi còn vào cả ví tiền của mẹ cha. Không thể đòi hỏi nền giáo dục ấy đào tạo ra một lớp người có nhân cách tốt.
 
Trong xã hội hiện nay có rất nhiều biểu hiện cho thấy rằng, người ta thật thà, tử tế khó tồn tại được, người ta phải dối trá. Tôi từng tham gia một cuộc trao đổi trên VTV6 về tình trạng giả dối, theo đó, 49/50 em có mặt nhận thức rằng, tình trạng giả dối trong xã hội là nghiêm trọng.
 
Chúng ta phải thừa nhận rằng, mấy chục năm nay nền giáo dục càng ngày càng xuống cấp và khủng hoảng. Giờ chỉ còn cách mỗi người cố gắng đóng góp ý kiến để tạo nên dư luận xã hội mạnh mẽ đòi hỏi phải có một cuộc cải cách giáo dục toàn diện và triệt để chứ không còn cách nào khác nữa.
 
 PV:- Nhiều ý kiến cho rằng, nước Nga đã phải trải qua những khủng hoảng về thang giá trị xã hội như Việt Nam nhưng dường như họ xoay xở tốt hơn chúng ta. Là một người từng học nhiều năm ở Nga, liệu ông có thể lý giải điều này như thế nào?
  

 GS Chu Hảo: -Một phần lớn là nhờ văn hóa và giáo dục. Nền văn hóa của Nga vững chãi hơn và được lưu giữ trong nhiều loại hình nghệ thuật trong đó có văn chương nên dù sự bất cập của thể chế dù có hủy hoại méo mó nhưng họ vẫn giữ được nền tảng của mình.
 
 Hoàng Hạnh (thực hiện)

(Đất Việt)

Đừng bắt con chúng tôi làm anh hùng nhí!

16:38 |
Tôi muốn con tôi là một đứa trẻ hồn nhiên, trong trẻo; lớn lên là người đàn ông tỉnh táo, điềm đạm, và lịch duyệt. Con người đó chắc chắn biết trân trọng và bảo vệ giá trị, trong đó có đất nước mà không cần sự nhào nặn nào từ trứng nước.

Những tranh luận về việc đưa thông tin lịch sử, cụ thể là cuộc chiến tranh năm 1979 vào sách giáo khoa đang thu hút sự chú ý. Nhân đây - với tư cách một phụ huynh học sinh - tôi muốn bàn thêm về cách giảng dạy - đề cập lịch sử trong cấp tiểu học.

Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của PGS.TS Nguyễn Cảnh Huệ, quyền Trưởng khoa Lịch sử, Trường ĐH SP TP.HCM và thầy giáo Trần Đình Phúc: Lịch sử cần được tôn trọng, chúng ta không thể im lặng trước những sự thật. Nếu lịch sử không được giảng dạy chính thống sẽ còn nguy hại hơn vì với điều kiện công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, các em có quá nhiều điều kiện để tiếp cận các nguồn thông tin.

Tôi không dám lạm bàn về chuyên môn khoa học của các nhà giáo dục và sử học. Với cương vị một người mẹ, tôi chỉ muốn nói đến cách đặt vấn đề lịch sử tác động đến con chúng tôi như thế nào.

Con trai tôi 10 tuổi, học lớp 4, chương trình học đại trà của Bộ Giáo dục - Đào tạo soạn thảo, năm đầu tiên tiếp cận 2 môn học Lịch sử - Địa lý ở mức sơ lược. Nhưng vấn đề tôi muốn bàn nằm ở một bài học Văn: "Những chú bé không chết".

Khi được yêu cầu giúp đỡ con học thuộc nội dung và phân tích ý nghĩa bài văn, tôi đã rất bối rối khi phải tìm từ ngữ và cách giải thích cho cháu, cùng một câu hỏi trong lòng: những nhà giáo dục đang làm gì con chúng tôi thế này?

Văn là người, học văn là học làm người, học về cái đẹp, tính nhân văn, chân thiện mỹ... ai cũng hiểu như vậy. Vậy sao một câu chuyện toàn những "tàn sát đẫm máu", "bọn phát xít", "tra tấn dã man" rồi "treo cổ" không phải một mà ba đứa trẻ lại được những nhà giáo dục chọn đưa vào sách giáo khoa.

Những đứa trẻ lớp 4 còn quá non để hiểu về những quân ta quân địch, đánh giết nhau, những cuộc tranh chấp ý thức hệ hay chủ nghĩa này khác. Nói đúng hơn, một đứa trẻ có nhiều cái đáng học hơn để làm người trước khi làm anh hùng: những mẩu chuyện bình dị về các danh nhân, quan hệ bạn bè gia đình, văn hóa quê hương đất nước... "Tinh thần yêu nước nồng nàn" sẽ tự nhiên từ đó mà nảy mầm, chứ không phải ở những câu chuyện chết chóc mà ngay mẹ của chúng cũng không cắt nghĩa nổi.
Ảnh bài học Những chú bé không chết trong sách giáo khoa

Trẻ em như búp trên cành - nhưng phải hy sinh trong cuộc chiến là một tình huống đớn đau và bất đắc dĩ, không phải để cổ vũ, với bất kỳ đứa trẻ nào trên thế giới này.

Trong lịch sử có một thứ bất biến là thông tin, nhưng những quan điểm và trạng thái quan hệ có thể thay đổi. Cái trẻ cần được dạy chỉ nên là thông tin khách quan, tỉnh táo và rõ ràng. Ý thức hệ hay bất kỳ lý do nào dẫn đến những cuộc chiến, đều thuộc về thế giới người lớn, không nên xuất hiện trong vườn trẻ.

Không có con người anh hùng, chỉ có tình huống tạo anh hùng. Bài học đầu tiên của người học võ là: học võ để tự vệ, không để tấn công! Tôi muốn con tôi là một đứa trẻ hồn nhiên, trong trẻo; lớn lên là người đàn ông tỉnh táo, điềm đạm, và lịch duyệt. Con người đó chắc chắn biết trân trọng và bảo vệ giá trị, trong đó có đất nước mà không cần sự nhào nặn nào từ trứng nước.

Một chuyên gia giáo dục từng thốt lên: "Chúng ta cố dạy trẻ căm thù thực dân Pháp, nhưng căm thù đến mức không cần biết Victo Hugo là ai thì chúng ta đã thất bại".

Hoàn toàn chính xác!

Luật sư Đào Quốc Huy, Văn phòng luật sư Đồng Đội, cũng là một phụ huynh học sinh tiểu học:
Đến nay nước ta đã có luật Giáo dục, điều 28, khoản 1 có đoạn:
"Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật"
Như vậy ý thức về việc giáo dục của mỗi bậc phụ huynh và Luật cơ bản là giống nhau, thậm chí không cầu kỳ như câu trả lời của mọi người ở trên.
Tôi có xem một bộ phim với tựa đề "The Beautiful Life - Cuộc sống tươi đẹp" mới thấy một ông bố trong thời chiến dạy con những gì. Mặc dù đối đầu với sự kỳ thị chủng tộc, chiến tranh ly tán, bố mẹ đều phải vào trại tập trung, sau đó người bố bị giết. Đứa bé được sinh ra trong thời chiến, bị bắt theo bố vào trong trại tập trung, chứng kiến sự tàn ác của phát xít Đức nhưng người bố đã khéo léo nói nó là một trò chơi, một trò chơi rất khó và lâu, nếu ai tuân thủ đúng luật chơi thì sẽ được một phần lớn là cái chiến xa thật sự.
Ngay cả trong thời chiến, đứa bé đó đâu có cảm nhận được chiến tranh đâu, nó nghĩ là một trò chơi lớn. Và cuối cùng như bố nó đã hứa, một lời hứa của một người bố đối với con đã thành hiện thực. Hình ảnh đứa bé ra khỏi trại tập trung và được ngồi lên chiếc chiến xa đầu tiên với nụ cười rạng rỡ là hình ảnh đẹp nhất của bộ phim.
Quay lại vấn đề giáo dục tiểu học, tôi nghĩ nếu muốn giáo dục lòng yêu nước cho các em, có quá nhiều hình thức, nội dung để thực hiện. Các em trong độ tuổi này chỉ cần tự giác ý thức và tự chăm sóc bản thân mình là điều tốt lắm rồi. Các em nhận thức được khi các em tự giác, các em đã tiết kiệm thời gian sức lực cho bố mẹ để cống hiến cho tổ quốc dưới nhiều hình thức,  như thế là các em đã yêu nước, góp phần bảo vệ tổ quốc rồi. "Tuổi nhò làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình" đúng như lời Bác Hồ đã nói. Bé chỉ cần ngồi đánh tam cúc cùng con mèo khoang để bố vào lò gạch, mẹ ra đồng cày như trong thơ Trần Đăng Khoa là đủ.
Đừng bắt trẻ con đóng vai anh hùng, như thế nó quá sức lắm, hãy để trẻ con là chính nó!
Bài văn Những chú bé không chết

Chiến tranh đã qua lâu rồi nhưng em vẫn nhớ mãi, nhớ về các chiến sỹ yêu nước trong lửa đạn chiến tranh khốc liệt ngày nào. Câu chuyện Những chú bé không chết luôn trong trí nhớ của chúng em.
Chuyện kể về ba anh em trong một gia đình nọ. Họ là du kích nhỏ của hồng quân Liên Xô. Ba anh em đều có lòng quả cảm, có tinh thần yêu nước nồng nàn. Họ sẵn sàng hy sinh đời mình bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ mảnh đất thiêng liêng mà họ hằng yêu quý.
Năm ấy, phát xít Đức đưa quân sang xêm lược Liên Xô. Chúng tàn sát đẫm mãu những nơi mà bọn chúng đi qua. Một chiều nọ, bọn Phát Xít bất ngờ tấn công vào một ngôi làng ven rừng. Vào đến nơi, chúng cảm thấy yên tâm khi thấy làng không, nhà trống, không có một sự chống cự nào. Chúng cứ càn quét khắp làng. Khi trời vừa sụp tối, tiếng súng nổ ran khắp mọi phía khiến bọn chúng hốt hoảng rồi nhớn nhác hỏi nhau rằng:
- Du kích bắn ở đâu? Du kích bắn ở đâu?
Một tên lính vội vã từ ngoài chạy vào trại của chúng bảo:
- Du kích đang bắn ở cánh rừng đằng kia. Đã bắt được một tên du kích.
Rồi bọn chúng đưa vào trại một chú bé khoảng chừng mười ba đến mười bốn tuổi. Chú bé mặc chiếc ao sơ mi xanh có hàng cúc trắng. Tên chỉ huy hỏi:
- Mày là ai?
Chú bé kiêu hãnh trả lời:
- Tao là du kích.
Tên sỹ quan thoáng giật mình nhưng vội trấn tĩnh rồi quát:
- Đội du kích của chúng mày ở đâu?
Chú bé cất cao giọng trả lời:
- Tao không biết, muốn biết thì tự mà đi tìm lấy.
Tên sỹ quan tức tối lệnh cho bọn lính tra tấn dã man nhưng chú bé không khai nửa lời. Gần sáng, bọn chúng đã đem chú bé ra bắn.
Đêm tiếp theo, du kích tấn công vào nơi đóng quân của bọn phát xít. Kho vũ khí của chúng đã bị nổ tung nhưng chúng cũng bắt được một em nhỏ mặc áo sơ mi xanh có hàng cúc trắng. Tên sỹ quan ngạc nhiên hỏi lai lịch của em bé và em cũng trả lời như câu trả lời của chú bé đêm qua. Tên sỹ quan không thể tin những điều đang diễn ra trước mắt mình. Chúng nghĩ rằng chú bé mặc chiếc áo sơ mi xanh có hàng cúc trắng đã bị bắn trong đêm qua mà sao lại không chết, vẫn là một du kích kiên cường. Hắn thầm thì:
- Ôi! Lạy Chúa! Đất nước này ghê rợn quá!
Rồi hắn ra lệnh treo cổ chú bé trong nỗi hoang mang, lo sợ.
Sang đêm thứ ba, đội du kích đánh tan sở chỉ huy của chúng. Tên sỹ quan được bắt sống. Khi được mở khăn bịt mắt, hắn vô cùng kinh ngạc khi thấy trước mặt là một du kích đứng tuổi và bên cạnh là một chú bé mặc chiếc áo sơ mi xanh có hàng cúc trắng. Hắn phủ phục dưới chân chú bé và cầu xin:
- Xin tha cho tôi. Tôi không biết ngài có thể chết đi sống lại như thần tiên thế này.
Lúc ấy, người phiên dịch viên chỉ vào người du kích đứng tuổi và nói:
- Đây là cha của hai đứa trẻ bị ngươi giết vào đêm hôm trước. Còn đây là đứa con trai thứ ba của bác ấy. Ba người con của bác là những du kích nhỏ luôn mặc áo giống nhau, có lòng yêu nước căm thù giặc như nhau, lòng quả cảm như nhau nên ngươi đã nhầm là chú bé chết đi sống lại. Tên sỹ quan nghe thế liền gục mặt xuống đất, hắn thán phục những anh hùng nhỏ tuổi, thán phục những chú bé không bao giờ chết và lo sợ cho vận mệnh của mình.


Hoàng Hường (TVN)

Lạm bàn về Chiến lược phát triển Công nghệ

16:21 |
Có một câu nói hài hước, hóm hỉnh như sau: “Nhà triết học là người biết càng ngày càng ít về một lĩnh vực càng ngày càng rộng để cuối cùng không biết gì về tất cả. Còn nhà khoa học là người biết càng ngày càng nhiều về một lĩnh vực càng ngày càng hẹp để cuối cùng biết tất cả về không có gì”.

Nói nghiêm trang, thì như sau: Tốt nhất là nhà khoa học đồng thời là một nhà công nghệ, tuy khả năng và nhiệm vụ chủ yếu vẫn là khoa học, và nhà công nghệ đồng thời là một nhà khoa học, tuy khả năng và nhiệm vụ chủ yếu vẫn là công nghệ. Chính là có phần theo nhận thức đó, mà người ta phân biệt chuyên gia (spécialiste) và chung gia – chứ không phải chung chung gia, đại khái gia - (généraliste). Chung gia giỏi là chuyên gia trong một vài lĩnh vực và h̀iểu biết rộng trong chừng mươi lĩnh vực khác nữa.

Nhìn rộng hơn, cái cố tật của ta từ trong đấu tranh chính trị (và trong chiến tranh) nên quen rồi, cái gì cũng phục vụ nhiệm vụ chính trị! Ngay làm kinh tế cũng có những ngành, có lúc xem nó là nhiệm vụ chính trị. Muốn thể hiện quyết tâm cao nhất thì phải “huy động cả hệ thống chính trị”. Nhớ lại thời bao cấp, sản xuất lương thực trong mô hình hợp tác xã, tập đoàn sản xuất là nhiệm vụ chính trị, coi cải tạo nông nghiệp là nhiệm vụ chính trị, là trục quay của cuộc vận động cách mạng… Chính vì tư duy lủng củng như vậy nên chủ trương thiếu khoa học, chính sách thiếu thuyết phục, nhân dân hưởng ứng rất khiên cưỡng… mà thất bại. Tương tự như vậy, có thời ta bắt khoa học phục vụ nhiệm vụ chính trị nên có nhà khoa học nói hột mít bổ dưỡng hơn trứng gà, ngành Y nói xuyên tâm liên trị bá bệnh. Một số quyết định nhà máy lọc dầu Dung Quất, bô xít Tây Nguyên, chủ trương thành lập các Tập đoàn kinh tế Nhà nước (học đòi theo Hàn Quốc) để làm nhiệm vụ sớm hóa rồng đều được các nhà kinh tế, khoa học phản biện là không nên nhưng vẫn làm, bây giờ hiện rõ là sai. Sai ngay từ chủ trương mà qua lăng kính bắt mọi thứ phải phục vụ chính trị bất chấp các luận chứng trên cơ sở khoa học và thực tế…

Bộ KHCN dự kiến chuẩn bị Hội nghị toàn quốc triển khai chiến lược phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2011-2020 vào ngày 8/3/2013 tại Hà Nội. Nhân đây, xin chuyển bài viết “Lạm bàn về chiến lược phát triển khoa học công nghệ” để các anh chị và các bạn tham khảo.

Tô Văn Trường


Ngày 11/04/2012 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định phê duyệt chiến lược phát triển khoa học và công nghệ (KHCN) giai đoạn 2011-2020 bao gồm các nội dung chính như: Quan điểm phát triển khoa học và công nghệ; Mục tiêu phát triển KHCN; Định hướng nhiệm vụ phát triển KHCN và Giải pháp chủ yếu. Bộ KHCN đang chuẩn bị tổ chức Hội nghị toàn quốc để triển khai chiến lược quan trọng nói trên.

Nhìn tổng quát, đây lả một văn bản có đầu tư trí tuệ nghiêm túc, biểu tỏ có một tư duy mới cố gắng cập nhật với trình độ phát triển của thế giới văn minh, cải tiến cách quản lý nghiên cứu khoa học, đặc biệt cố gắng gắn kết giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội để phục vụ phát triển kinh tế xã hội vùng và các địa phương. Tuy nhiên, mục đích của người viết bài này là nhằm đi thẳng vào những điểm gì còn thiếu sót, hời hợt, nguyên nhân của những mặt yếu kém đã thấy từ lâu nhưng hầu như chưa có gì xoay chuyển, từ đó góp ý về lối ra sao cho có hiệu quả nhất.

Trong kho tàng ngôn ngữ nhà nước chính thống hiện nay thì “chiến lược” là một khái niệm hay được người ta dùng nhiều nhưng thực sự không có nhiều người hiểu nó. Khi Chính phủ làm chiến lược thì cũng “tù mù” vì cho đến nay chúng ta vẫn chưa có Luật quy hoạch trong khi trên thế giới chỉ có 2 quốc gia là Việt Nam và Lào lại có quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội! Chúng ta thường nói là quy hoạch – 20 năm, tầm nhìn 30-50 năm, chương trình – có lúc cũng được gọi là chiến lược – 10 năm, dưới nữa là kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm cho nên đôi khi lẫn lộn khái niệm về phương pháp luận với các khoảng thời gian khác nhau.



Quan điểm nhận thức

Theo tôi hiểu, chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của một nước thường gồm 6 thành tố sau đây: (i) Đánh giá đúng thực trạng và các vấn đề nổi cộm của nền khoa học và công nghệ nước nhà; (ii) Xác định đúng đòi hỏi về khoa học và công nghệ của nước nhà (thí dụ trong 10 năm tới); (iii) Lựa chọn một cách thông minh những ngành khoa học công nghệ mũi nhọn, những khâu đột phá; con đường, các nguồn lực và các biện pháp phát triển khoa học và công nghệ của nước nhà, trong đó mấy điều rất quan trọng là từ chỗ học hỏi, du nhập, làm theo khoa học và công nghệ của thế giới đến chỗ tạo ra khoa học và công nghệ của nước mình; (iv) Thiết lập các điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học, nhà công nghệ của nước mình hoạt động và giao lưu, hội nhập quốc tế; (v) Xây dựng đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ; (vi) Tổ chức các cơ quan khoa học và công nghệ của nước nhà.

Trong 6 thành tố, tôi liệt kê ở trên thì chiến lược phát triển KHCN ở Việt Nam đã trả lời 3 vấn đề nhất là vấn đề thứ 3 còn thiếu ý nói tới vấn đề cuối cùng. Hay nói cụ thể hơn, với thành tố (ii), trong các lĩnh vực, luôn có cây mục tiêu nên việc xác định này liên quan đến yêu cầu chọn đúng đoạn nào của cây mục tiêu đó. Nói cách khác, phải xác định và đi từ gốc của vấn đề để rồi tiếp tục đi đến các vấn đề phát sinh. Hiện nay, trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn đã tích tụ quá nhiều vấn đề bất cập. Vấn đề không phải là ở chỗ chưa có sự thống nhất ý kiến mà là ở chỗ để sự không thống nhất này kéo dài, dẫn đến sự phân liệt về tư tưởng quan điểm, phân liệt trong hành động để khi phát triển đến mức cao thì thành phân liệt về tổ chức.Minh chứng là những ý kiến khác nhau về dự thảo Hiến pháp 2013 thể hiện rõ thực trạng này.

Với thành tố (iv) và (v), tôi vẫn băn băn khoăn ở khía cạnh cần làm rõ chủ trương, chính sách sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học. Đó là chưa kể đến việc chảy máu chất xám do chính sách đãi ngộ, do chính sách tuyển dụng (gắn với tệ nạn mua quan, bán chức). Ngoài ra, còn phải tính đến nhiệm vụ phòng ngừa tệ nạn “Khoa học phiệt” có thể đã chớm xuất hiện ở Việt Nam , có thể liên quan đến vấn đề bè phái được hình thành dưới tác động của nhóm lợi ích.

Lâu nay, chúng ta thường nghe điệp khúc “”Khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Bản chiến lược lần này vẫn nhắc lại như thế, có lẽ là một câu chỉ có xác chữ chứ không có nghĩa vì không có thực tế và không có sức sống. Chúng ta cũng thường được đọc và nghe nói rằng: “Xây dựng Đảng (việc cốt yếu của chính trị) là then chốt, phát triển kinh tế là trung tâm, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, đối ngoại là tiến cùng thời đại, cống hiến cho thế giới và tiếp thu từ thế giới, v.v.”.

“Then chốt”, “trung tâm”, “nền tảng tinh thần của xã hội”, “tiến cùng thời đại” lại không phải là hàng đầu, chỉ là hàng hai, hàng ba thôi hay sao? Cái gì cũng “hàng đầu” thì là dàn hàng ngang ra mà tiến, thế thì còn “hàng đầu” gì nữa? Chung quy là bệnh “sính chữ”, câu viết và lời nói rỗng, không khái niệm.

Khoa học và công nghệ là nguồn cội bên trong và sức mạnh kết dính của mọi nhân tố phát triển, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Lúc sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét chính sách khoa học và công nghệ quyết định chính sách giáo dục và đào tạo, chứ không phải ngược lại. Và cả khoa học và công nghệ, cả giáo dục và đào tạo đều do nhu cầu của cuộc sống và khả năng của dân tộc quyết định.

Trước đây, ta nói khoa học kỹ thuật hoặc khoa học và kỹ thuật. Vài chục năm nay thì sửa lại một cách chuẩn xác, là khoa học và công nghệ. Đấy không phải chỉ là thay chữ. Thực tế mới được phản ánh và thể hiện trong việc đổi “kỹ thuật” thành “công nghệ” là: Thời khoa học và kỹ thuật, cự ly về thời gian và về nội dung giữa 4 công đoạn: Phát minh khoa học, ứng dụng thử nghiệm, đưa vào sản xuất, phổ biến đại trà trong mọi sinh hoạt xã hội tính hàng năm, nhiều năm, có trường hợp hàng chục năm, thì nay rút ngắn lại nhiều, có khi chỉ tính hàng tháng, thậm chi có khi mấy công đoạn hợp nhất vào nhau. Đó chính là khoa học và công nghệ.

Thời khoa học và công nghệ, xu thế đã có từ trước được thúc đẩy nhanh và mạnh hơn nhiều, đó là sự tổng hợp khoa học tự nhiên và khoa học xã hội (gồm cả khoa học nhân văn), sự đan xen vào nhau, gắn bó hòa đồng giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, với vai trò ngày càng tăng của khoa học xã hội.



Khoa học công nghệ của nước nhà đang ở đâu?

Làm thế nào để biết được KHCN đã đến đích chưa? Theo dõi – giám sát – đánh giá? Đây chính là thứ mà do thiếu công khai, minh bạch nên Việt Nam thể hiện kém nhất ở khâu này. Người ta cứ tranh luận, cãi nhau  như “thày bói xem voi” hoặc lý sự cùn mà thiếu đi các chỉ số đo lường rõ ràng, cụ thể.

Khoa học tự nhiên trên công luận đã có nhiều bài viết đánh giá so sánh với các nước trong khu vực. Riêng trong lĩnh vực khoa học xã hội thực sự lạc hậu so với trào lưu của thế giới. Cần phải có một khảo sát xã hội học độc lập và khách quan về chất lượng khoa học thật sự của những công trình khoa học xã hội từng được công bố, về đội ngũ những người đang làm khoa học xã hội ở các viện và các trường đại học hiện nay. Từ đó, mà nhận diện chính xác diện mạo thật của ngành khoa học xã hội nước ta.

Theo tôi hiểu công nghệ là lĩnh vực vận dụng các quy luật khoa học vào đời sống. Các quy luật khách quan có thể phát huy tác động một cách tự phát, dẫn đến những hậu quả không ngờ. Mặt khác, các quy luật đó có thể được nhận biết và được vận dụng để đạt những mục tiêu cụ thể. Như vậy, cũng có vấn đề công nghệ (vận dụng các quy luật của khoa học) đối với khoa học xã hội nhân văn. Ví dụ xét về mặt khoa học thì việc tính giá đất phải dựa vào việc vận dụng quy luật giá trị. Theo đó, thì một vật cụ thể chỉ có giá trị khi nó được lao động tác động vào để tạo ra một giá trị sử dụng cụ thể. Vì thế, nên giá trị của một sản phẩm nào đó phụ thuộc vào hao phí lao động xã hội, chứ không phải hao phí lao động cá biệt, để tạo ra giá trị sử dụng của nó. Từ đó, hình thành giá cả của sản phẩm theo nguyên tắc giá cả xoay quanh giá trị, Tổng giá cả bằng tổng giá trị. Giá cả cụ thể cao hoặc thấp hơn giá trị do tác động của quan hệ cung-cầu. Ngoài ra, còn có tác động đầu cơ, tích trữ, lũng loạn thị trường của các đại gia làm cho giá cả tách rời quan hệ cung cầu, dẫn đến những bong bóng giá đem lại lợi nhuận siêu ngạch cho các đại gia.

Thế nhưng trong thực tế, các nhà khoa học, các nhà quản lý được đào tạo một cách bài bản đã dẫn Chính phủ đi đến quyết định tính giá đất theo giá thị trường. Hậu quả là các đại gia – nhóm lợi ích tâng giá lên thì Chính phủ cũng nâng giá lên theo, đem lại lợi ích cho các đại gia. Giá đất lại không tính hao phí lao động xã hội để tạo ra giá trị sử dụng mà lại được tình theo doanh thu/năm nên dẫn đến một loại giá rất thấp. Chúng ta đã tính là doanh thu bình quân năm của 1 ha đất dùng vào sản xuất nông nghiệp chỉ là 9,1 triệu đồng trong khi cùng một diện tích đó dùng vào mục đích khi đóng phí nông nghiệp lại chiếm 2,1 tỷ đồng. Do đó, câu hỏi được đặt ra là có phải đội ngũ cán bộ khoa học đó không nắm bắt các quy luật của khoa học kinh tế và công nghệ vận dụng quy luật đó vào thực tế không? Cách làm như vậy là vì mục tiêu chính trị hay vì lợi ích nhóm?

Có ý kiến cho rằng về thực trạng chúng ta đang ở đáy của KHCN thế giới bởi vì đánh giá tiến bộ của KHCN của một quốc gia thường lấy tiến bộ công nghệ giao thông vận tải để đánh giá. Giá thành xây dựng các hạng mục của ngành giao thông ở Việt Nam thường cao nhất, chất lượng thấp nhất trong khi mỗi năm tai nạn giao thông thuộc loại cao nhất, cướp đi sinh mạng của hơn chục nghìn người. Thị phần vận tải của ba binh đoàn chủ lực của ngành giao thông là hàng không, đường sắt, hàng hải chỉ bằng 0,5 của đường sông. Vậy thì còn đâu là khoa học công nghệ? Về hàng không, từ bệ phóng của một cường quốc không quân, có một hệ thống sân bay tốt nhất ASEAN, vậy mà thị phần vận tải hiện nay chỉ khoảng 10 triệu hành khách/năm, đạt 0,3% thị phần trong 5 loại hình vận tải cả nước, bằng 1/4 so với Singapore – nước chỉ có 1 sân bay. Đường sắt thì càng tồi tệ vì công nghệ lạc hậu. Đường biển thì 230 cảng biển manh mún, lãng phí đầu tư công trên 120 tỷ USD nhưng hiệu quả mang lại thấp nhất!

Một ví dụ điển hình rất cần câu trả lời đúng đắn của chính sách phát triển KHCN trong việc thúc đẩy hợp tác công tư (PPP) trong nông nghiệp. Lý luận và thực tế PPP ở các nước trên thế giới cho thấy trong lĩnh vực nông nghiệp có thể áp dụng cơ chế PPP trong cung cấp hạ tầng cơ sở và dịch vụ công như trạm bơm, hồ chứa, kênh mương thủy lợi, kho chứa/bảo quản; hay trong khuyến nông, chọn tạo giống, nghiên cứu ứng dụng, công nghệ sau thu hoạch, trồng rừng và bảo vệ rừng, v.v.

Theo tôi hiểu, PPP không có gì là sai, đó chỉ là một trong nhiều cách thức thực hiện dự án cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên, nguy hiểm ở chỗ người ta lợi dụng một chủ đề mới (đối với Việt Nam) và biến nó thành chủ đề “HOT” rồi tìm cách gây ảnh hưởng đến các chính sách của mình để phục vụ cho mục đích kinh doanh và mưu đồ riêng của họ. Vì chính sách của Việt Nam là chỉ hỗ trợ (subsidize) cho cái được gọi là công nghệ mới và tiên tiến, còn công nghệ của nhân dân, của Hai Lúa rẻ tiền, phù hợp với điều kiện của đất nước sẽ không được hỗ trợ!? Trong khi đó, hỗ trợ các doanh nghiệp FDI bán công nghệ của họ với giá cắt cổ thì nhiều người hớn hở, cán bộ được “phết phẩy”, ngay cả kinh doanh thì được trích hoa hồng trong khi họ sản xuất ra với giá rất thấp nhưng bán ra với giá ngất ngưởng trên trời vì họ có đăng ký bản quyền! Nhà khoa học thay vì phải làm khoa học thì cũng lại quay ra buôn bán vì làm vậy nhanh giàu hơn, và đương nhiên thuế của chính mình được dùng để FDI chiếm lĩnh thị trường Việt Nam.



Khiếm khuyết của bản chiến lược phát triển KHCN

Lỗ hổng lớn nhất của bản chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020 được Thủ tướng phê duyệt chính là khi bàn về khoa học xã hội và nhân văn.

Chúng ta chưa mạnh dạn, đánh giá cho đúng sự lạc hậu, thậm chí là lạc điệu so với khoa học xã hội của thế giới. Vì trong một thời gian quá dài, cho đến hiện nay vẫn vậy, khoa học xã hội chỉ là một công cụ minh họa cho đường lối chính sách của Đảng, nó không đáng được gọi là một NGÀNH KHOA HỌC theo nghĩa đích thực của nó. Bởi thế, các nhà khoa học Việt Nam dù có tài giỏi, trí tuệ cũng không thể hòa đồng hay tiếp cận với khoa học xã hội của thế giới vì tư duy về phương pháp luận hoàn toàn khác nhau.

Muốn xây dựng một ngành khoa học xã hội đúng với vai trò và chức năng, nhiệm vụ đích thực của nó phải thay đổi tận gốc tư duy về khoa học xã hội, gần như phải xóa đi làm lại từ đầu, trả về cho nó chức năng khoa học đích thực. Thực tế cuộc sống đòi hỏi đào tạo và tuyển chọn lại đội ngũ người làm khoa học xã hội, bao gồm những người được đào tạo tại các trường đại học danh tiếng ở nước ngoài, mời những chuyên gia giỏi người Việt ở nước ngoài về nước tham gia đào tạo đội ngũ khoa học trẻ được thanh lọc và tuyển chọn trong nước đồng thời, biết cách mời gọi những nhà khoa học xã hội đã có quá trình đào tạo và nghiên cứu tốt, có công trình xuất bản được giới khoa học trong và ngoài nước thừa nhận trở lại giúp thêm vào công cuộc đào tạo các cán bộ nghiên cứu trẻ.

Xin lấy một ví dụ về những nhà khoa học xã hội tài năng vào bậc thầy nhưng không hề ngồi vào một ghế “quan khoa học” nào cả như: Trần Đình Hượu, Nguyễn Từ Chi, Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, v.v. thậm chí họ cũng không tham gia vào tiến trình của cơ chế phong học hàm giáo sư, nên họ chỉ là phó giáo sư, nhưng với nước ngoài, họ được đánh giá rất cao về công trình khoa học. Chẳng hạn như PGS Trần Đình Hượu, khi sang giảng dạy ở Pháp, được quyết định của Tổng thống Pháp Mitterand mời làm giáo sư danh dự giảng dạy tại Đại học Pháp, còn PGS Cao Xuân Hạo thì được giới ngôn ngữ học đánh giá rất cao về công trình khoa học của ông được in ở Paris.

Xu hướng và giải pháp phát triển KHCN

Người dân mong muốn đừng để tiếp diễn mãi tình cảnh “Hai Lúa” dù văn hoá mới chỉ là tiểu học nhưng lại làm ra cầu treo, “thần đèn” di chuyển công trình xây dựng, sáng chế các máy công cụ nông nghiệp, còn các nhà khoa học quay ra làm nhà bán giống!

Để phát triển KHCN một cách bài bản khoa học, xu hướng chung cần xác định cụ thể chúng ta đang ở đâu? Sứ mệnh và giá trị của các ban ngành – thông qua việc sử dụng SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, và thách thức). Chúng ta đi đâu? Lợi thế cạnh tranh bền vững. Những gì ta có thể làm tốt nhất? Tính độc đáo của ta là gì? Làm thế nào chúng ta sẽ đạt được? Mục tiêu chiến lược dài hạn, các khu vực chiến lược mà giúp ta kết nối sứ mệnh của ta để tầm nhìn liên tục. Chiến lược có phù hợp với điểm mạnh của ta không? Mục tiêu / ưu tiên ngắn hạn / Sáng kiến: Mục tiêu chiến lược chuyển đổi mục tiêu của mình thành những mục tiêu thực hiện cụ thể ngắn hạn. Kế hoạch hành động thiết lập chỉ tiêu cụ thể và một số biện pháp và quản lý kế hoạch chiến lược của ta. Thực hiện kế hoạch, xác định các vấn đề xung quanh những ban nghành bị ảnh hưởng. Làm thế nào ta có thể cam kết thực hiện kế hoạch để di chuyển về phía trước trong các ban nghành của ta? Ta sẽ dùng tiền bạc, tài nguyên, và thời gian như thế nào để hỗ trợ các kế hoạch đó?

Khoa học & Công nghệ của Việt Nam hiện nay có yêu cầu rất thực tế là Nhà nước làm sao bảo đảm cho dân rằng cái gì đưa vào mồm là không có chất độc hại. Các sản phẩm uy tín như sữa Vinamilk, gốm sứ Minh Long, gốm sứ Bát Tràng, bơm điện của cơ khí Hà Nội, thép Povina, và cả gạo, cá, thịt, rau, củ, v.v. nghĩa là những sản phẩm sạch, dinh dưỡng, chắc và bền của Việt Nam cần phải được bảo vệ và phát triển bằng các giải pháp cụ thể.

Khoa học ngày nay đã chứng minh được rằng con người ta có ít nhất là 7 loại trí thông minh nên những cách sát hạch cùng thang điểm áp dụng ở nhà trường từ trước tới nay đã rất lạc hậu. Có lẽ đã đến lúc cần có tư duy mới tương xứng để chọn nhân tài cho xã hội, đặc biệt là nguồn nhân lực cho KHCN.

Tạo cơ chế, khuyến khích động viên các nhà khoa học dấn thân phản biện những vấn đề nóng bỏng của đất nước như sửa đổi Hiến pháp, sửa luật đất đai, đề án cải cách hành chính, đề án tái cơ cấu nền kinh tế, các dự án “nhạy cảm “ như điện hạt nhân, đường sắt cao tốc Bắc Nam, bô xít Tây Nguyên, cảng Lạch Huyện, v.v.

Cần đẩy mạnh việc cho phép nhập khẩu công nghệ với mục đích nghiên cứu và phát triển công nghệ đó biến thành của mình. Ví dụ như cho phép nhập khẩu máy móc thiết bị nhưng với yêu cầu thiết bị đó phải chuẩn hóa và dần dần trong nước sản xuất được các linh kiện thay thế, không phải suốt đời chỉ gia công, lắp ráp phụ thuộc vào linh kiện thay thế của họ.

KHCN hiện nay cần phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân trên cơ sở bám sát tính ứng dụng & đáp ứng nhu cầu thị trường, chú ý thừa hưởng những thành tựu KHCN của thế giới. Nghiên cứu cơ bản tùy khả năng mà nêu ra & thực hiện. Không thể đổi tên hai Viện Khoa học quốc gia thành Viện Hàn lâm để cho phân biệt với các “Viện dưỡng lão” còn lại là đất nước sẽ có ngay nền văn hóa-khoa học-giáo dục hàn lâm!

Cần tháo bỏ hoàn toàn những trói buộc tự do tư tưởng, sao cho khoa học chỉ còn một yêu cầu là “lấy thực tiễn làm căn cứ duy nhất ” để xem xét tính đúng đắn của nó. Tiếng nói của các nhà khoa học chân chính phải mang ý nghĩa quyết định chứ không chỉ đóng vai trò tư vấn tham khảo. Các nhà khoa học thực sự cần & phải được sống bằng công việc nghiên cứu của mình, không phải bằng các chức vụ quản lý.

Có cơ chế và chính sách khuyến khích huy động tăng cường nguồn kinh phí của xã hội cho công tác KHCN, sử dụng hiệu quả các nguồn kinh phí, cụ thể là nguồn vốn tài trợ của Dự án First do Ngân hàng thế giới (WB) có giá trị hơn 100 triệu USD thực hiện từ tháng 6/2013 đến hết năm 2017 với các nội dung nhằm thúc đẩy sự phát triển KHCN Việt Nam.

Thay cho lời kết

Nhu cầu phát triển bền vững cũng đòi hỏi vai trò lãnh đạo phải thể hiện qua việc thay đổi hành vi, thói quen, cách nghĩ của toàn xã hội. Nếu KHCN (kể cả vai trò trách nhiệm của các nhà khoa học và quản lý) không tiến kịp cùng thời đại, không vượt lên chính mình thì không thể giải thoát cho đất nước thoát khỏi tình trạng của con “chuột bạch” khốn cùng!

TS. Tô Văn Trường

(Bauxite)

Lê Văn Phát - Vào Đảng để làm gì?

17:19 |
“Vì sao anh (chị) xin gia nhập Đảng” hay “anh (chị) vào Đảng để làm gì?”, nói chung, tổ chức đảng đều nhận được câu trả lời gần giống nhau, đại thể: “Tôi vào Đảng để hy sinh chiến đấu cho mục đích cuối cùng của Đảng là đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, xây dựng CNXH và CNCS trên đất nước ta”.

Trả lời thế nhưng khi đã vào Đảng rồi thì trong công tác và sinh hoạt hằng ngày không phải ai cũng sẵn sàng “chiến đấu hy sinh”, “sẵn sàng đấu tranh”, “sẵn sàng là người chiến sĩ tiên phong” trên cương vị, chức trách được giao phó.

Chỉ tính từ ngày Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đến nay, bên cạnh những đảng viên lao động sáng tạo, dũng cảm phấn đấu, là người tiên phong trên tất cả các lĩnh vực công tác đúng như lời hứa khi gia nhập Đảng thì số đảng viên vi phạm kỷ luật đảng và luật pháp nhà nước, mắc vào những tội tham ô, lãng phí, vô trách nhiệm “nổi tiếng”, bị công luận phanh phui tỷ lệ là bao nhiêu? Những ai mắc tội, những ai bao che, thiên vị? Và bao nhiêu người đã trù dập đảng viên, quần chúng vì họ dám nói lên sự thật? Những vụ ăn hối lộ, chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy dự án, chạy tội… đã và đang như dòng nước ngầm bẩn thỉu làm vẩn đục đời sống xã hội, làm ô uế thanh danh của Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân thì trong đó có bao nhiêu phần trăm là người đã từng hứa khi vào Đảng?

Không ít người đua nhau “tìm cách chui vào Đảng” đã biến Đảng thành cái cầu thang để bước lên con đường danh vọng mưu vinh thân, phì gia. Khi người có động cơ vào Đảng chỉ vì lợi ích của mình, thì sẽ dẫn họ đến tôn thờ chủ nghĩa cá nhân, không vì nhân dân, không vì lợi ích của đất nước, dân tộc mà hành động. Nếu tổ chức đảng kết nạp người có động cơ “vì mình” vào Đảng thì chẳng khác gì cấy thêm những tế bào ung thư vào cơ thể Đảng, làm cho Đảng, bản chất vốn vì nhân dân, làm đầy tớ trung thành của nhân dân dần dần thoái hoá, biến chất thành tổ chức để làm quan phát tài. Như thế, tác hại sẽ không lường hết:

- Gây nên tình trạng “kẻ không tốt tìm người không tốt”. Có thể nói đây là tác hại nguy hiểm nhất. Người có động cơ cá nhân khi đã thành đảng viên thì không những không ngăn ngừa được những kẻ cơ hội chui vào Đảng mà còn tạo cơ hội cho những kẻ cùng hội cùng thuyền dễ dàng đứng vào hàng ngũ của Đảng. Cứ thế, những kẻ cá nhân chủ nghĩa ở trong Đảng sẽ phát triển theo cấp số nhân, những chiến sĩ kiên cường sẽ trở thành thiểu số, nguy cơ Đảng bị biến chất là khó tránh khỏi.

- Làm hư hỏng bộ máy tổ chức:

+ Tạo ra tình trạng tư túng, cánh hẩu: Những kẻ cơ hội chui vào Đảng sẽ tìm mọi cách để chạy chức, chạy quyền. Khi đã có chức quyền thì tất sẽ sinh bè phái, “ai hẩu với mình thì dù có không đúng cũng nghe, không tài cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe.

+ Làm cho pháp luật bị khinh nhờn: Kẻ chỉ vì mình tìm cách vào Đảng để chờ cơ hội nắm lấy chức quyền bằng mọi thủ đoạn. Khi đã có chiếc ghế của uy quyền là nhăm nhăm kiếm lời, bất chấp kỷ cương, phép nước.

+ Hủ hoá đảng viên, cán bộ, công chức: Hủ là xấu, hoá là biến đổi, biến thành; hủ hoá có nghĩa là biến cái tốt đẹp thành ra xấu xa. Động cơ vào Đảng chỉ vì mưu lợi ích cho riêng mình thì dần dần sẽ hủ hoá, càng ngày càng xa xỉ… thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức. Ông uỷ viên đi xe hơi, rồi bà uỷ viên, cho đến các cô, các cậu uỷ viên, cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai chịu. Ngày nay không ít đảng viên đã cố tình quên đi lời hứa khi vào Đảng, lâm vào cảnh hủ hoá ngày càng trầm trọng.

+ Chia rẽ nội bộ: Do động cơ vụ lợi ích kỷ nên khi đã có chức quyền trong tay (nhất là khi Đảng và Nhà nước trao nhiều quyền hành cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị) nếu không sớm được phát hiện và ngăn chặn họ dễ kéo bè, kéo cánh, bênh vực người xấu, chống lại những người thẳng thắn, trung thực dám đấu tranh với những sai trái của họ. Tình trạng chạy chức, chạy quyền bao giờ cũng dẫn tới chia rẽ nội bộ, làm mất đoàn kết, tạo điều kiện cho kẻ cơ hội “đục nước béo cò”.

Tại đại hội chi bộ xóm và đại hội đảng bộ bộ phận thôn nhiệm kỳ này, đảng viên trẻ Trần Văn H đã tự ứng cử và đều trúng cử vào chi ủy chi bộ xóm, đảng ủy đảng bộ bộ phận thôn. H được đảng ủy phân công phụ trách công tác thanh niên ở thôn. Mọi việc ban đầu diễn ra suôn sẻ, tưởng sẽ là bước tạo đà cho sự phát triển của đảng viên này. Ai dè…

Khi Đoàn TNCS Hồ Chí Minh của xã đại hội nhiệm kỳ, H không được cơ cấu vào ban chấp hành đoàn xã. Việc này không như hy vọng ban đầu của H. Thế nên tư tưởng, trách nhiệm của H thay đổi hẳn. Những nhiệm vụ do H đảm nhiệm bị chững lại. Thôn H cư trú vừa mới thành lập, nên chưa có trưởng công an thôn, H hy vọng: Nếu được trên bố trí làm công an thôn thì sẽ tốt, tiện lợi cho gia đình nhiều bề, vì nhà H bán cà phê, cho thuê nhạc sống… Tuy vậy, xét về khả năng và nghị lực, cấp trên lại giao nhiệm vụ trưởng công an thôn cho người khác chứ không phải là H. Từ đó, H sinh ra nản chí, làm đơn xin rút khỏi chi ủy chi bộ xóm và đảng uỷ bộ phận thôn.

Động cơ vào Đảng của H là vì lợi ích riêng, để được “làm quan” dù đó là “quan xóm”, “quan thôn” hay “quan xã”. Và khi không đạt được ý nguyện cá nhân của mình, H đã lập tức rời bỏ vị trí chiến đấu, rời bỏ Đảng.( Trích lược theo: Vào Đảng để làm gì và Động cơ khi vào Đảng của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam).

Để xảy ra tình trạng như trên thì Đảng không thể trách những người vào Đảng mà phải tự trách mình. Bởi vì Đảng đã vô tình ép họ vào chứ không phải họ tự nguyện. Giáo viên muốn lên hiệu phó, hiệu trưởng phải có Đảng, nhân viên muốn lên trưởng, phó phòng phải có Đảng, nói chung muốn thăng quan tiến chức,len lỏi vào bộ máy chính quyền thì trước hết phải vào Đảng. Nếu không vào Đảng mà thăng tiến nhanh hơn thì liệu những người đó có vào không?

Mặc khác trong kinh phật có nói bản chất của con người là tham, sân, si,nó còn tàn độc hơn cả loài rắn độc nên khi bước vào cửa phật phải dũ bỏ hết điều này. Do đó, những người vào Đảng, muốn phấn đấu theo lý tưởng của Đảng thì trước hết phải trút bỏ tham, sân, si như khi vào cửa phật, nếu không đa số những người vào Đảng là theo đuôỉ mục đích riêng của mình và cuối cùng là Đảng sẽ phục vụ lợi ích của ai?

Hoà phát, ngày 01 tháng 03 năm 2013

Ks. Lê Văn Phát

(Dân luận)

Nguyễn Vạn Phú - Đa sở hữu đất đai: Tại sao không?

17:04 |
Những lập luận đằng sau sự khẳng định đất đai phải thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý hầu như vắng bóng. Không ai giải thích cho cặn kẽ vì sao không cho nông dân sở hữu mảnh đất họ đang canh tác.

Dường như sự “kiên định” này là do quán tính: hễ nói đến chủ nghĩa xã hội thì đất đai phải của tập thể như cách suy nghĩ ngày xưa, nông dân phải vào hợp tác xã mới đúng định hướng chứ không được làm ăn riêng lẻ.

Điều mỉa mai là những nguyên tắc mang tính giáo điều đó đã bị bỏ đi trong các lãnh vực khác, trừ đất đai. Doanh nghiệp tư nhân, kể cả nước ngoài được phép “bóc lột” thoải mái “giá trị thặng dư”, quy mô càng lớn càng được khuyến khích.

Đứng ở góc độ lý thuyết, hiện nay chúng ta đã thừa nhận một nền kinh tế đa sở hữu, trong đó chủ doanh nghiệp tư nhân được quyền sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân được cam kết bảo vệ quyền sở hữu tư liệu sản xuất của họ. Cách đây hai năm, tranh luận về chế độ công hữu các tư liệu sản xuất – điểm then chốt của chủ nghĩa xã hội - đã kết thúc với kết quả là khái niệm này đã được gác lại. Các doanh nghiệp nhà nước đang được cổ phần hóa, tức đa dạng hóa sở hữu, chứ đâu có khăng khăng nhà nước phải làm chủ.

Nay với nông dân, tại sao không thể mạnh dạn áp dụng một sự ứng xử tương tự - tức là công nhận người dân có quyền sở hữu đất đai – là tư liệu sản xuất chính của họ. Làm khác đi là không tạo ra sự công bằng, là tước bỏ của người nông dân cái quyền họ mơ ước bao giờ nay. Làm khác đi, có nghĩa chỉ áp dụng “định hướng xã hội chủ nghĩa” với nông dân, còn giới doanh nghiệp thì thôi khỏi? Hay nhìn ở góc ngược lại, xây dựng nền nông nghiệp mà đất đai không vận hành theo đúng quy luật thị trường thì, đến một ngưỡng nào đó, làm sao nông nghiệp phát triển tiếp tục.

Thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đất đai dẫn đến một số lo ngại – vấn đề là những lo ngại này có cơ sở hay chỉ là lo ngại vô căn cứ?

Lo ngại đầu tiên là sở hữu tư nhân sẽ dẫn đến tích lũy ruộng đất, làm nảy sinh “tầng lớp địa chủ” mới. Cái vô căn cứ ở đây là ràng buộc hạn điền vẫn còn đó; thậm chí nếu sau này không còn hạn điền nữa, người nào muốn canh tác quy mô lớn, tại sao không khuyến khích? Điều đó khác gì một chủ doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn, tuyển hàng ngàn công nhân? Không lẽ một bên khuyến khích, một bên thì cấm?

Lo ngại thứ nhì là đất đai của tư nhân sẽ khó giải tỏa để làm các công trình công cộng hay đơn thuần là để phát triển các khu đô thị mới. Cái khó của việc giải tỏa sẽ tồn tại dù đất là thuộc quyền sử dụng hay quyền sở hữu của người dân. Vấn đề là chính sách công bằng, công trình thật sự cần thiết và quyền lợi của người có đất được tôn trọng thì không có gì khó khăn cả. Thật ra, để bảo vệ quyền lợi của người dân nghèo chỉ còn mảnh đất để canh tác thì càng khó giải tỏa đất càng tốt chứ sao. Để bất kỳ công trình nào cũng phải cân nhắc thiệt hơn chứ không làm đại, làm theo kiểu dự án treo, rồi đẩy người dân vào chỗ mất đất.

Ngược lại, cái lợi của một chế độ đa sở hữu sẽ rất nhiều: nông dân sẽ ứng xử với đất như người chủ chứ không như người thuê như hiện nay, năng suất ắt sẽ tăng, hiệu quả sử dụng đất sẽ được nâng cao. Ngày xưa chỉ cần mảnh đất 5% mà người dân đã có thể xoay xở vượt qua những năm tháng khó khăn của thời bao cấp; nay được sở hữu 100% thì người nông dân sẽ làm ra điều thần kỳ mới.

Quan trọng nhất, hiện tượng đau lòng khi những người dân bị tước mất đất, phải vác đơn đi khiếu kiện khắp nơi sẽ không còn nữa. Giới cường hào mới ở các địa phương không còn có thể dễ dàng vẽ ra dự án để tước đoạt đất của dân; giới làm ăn bất lương không thể cấu kết với giới có quyền lực để đuổi người dân ra khỏi ngôn nhà của họ. Đó mới gọi là đúng định hướng xã hội chủ nghĩa nếu hiểu khái niệm này theo nghĩa chính xác nhất của nó.

Nguyễn Vạn Phú

(Blog Nguyễn Vạn Phú)

Bộ GD&ĐT có cố tình bưng bít thông tin gian lận thi cử?

18:30 |
Phải nói thẳng băng thế bởi trong Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế thi tốt nghiệp THPT, ở điều 42a về “xử lý thông tin phản ánh về tiêu cực trong kỳ thi” đã hạn chế quyền tố cáo của công dân được Luật Tố cáo quy định.

Tại Điều 42a của Thông tư 04 quy định, người có bằng chứng về vi phạm quy chế thi không được phát tán thông tin cho người khác, dưới bất kỳ hình thức nào. Bằng chứng về việc vi phạm quy chế thi tốt nghiệp THPT phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền. Cụ thể, nơi tiếp nhận thông tin bằng chứng về vi phạm quy chế thi là Ban chỉ đạo thi tốt nghiệp THPT Trung ương hoặc Ban Chỉ đạo thi cấp tỉnh (thành phố) và Thanh tra giáo dục các cấp.

Luật Tố cáo được Quốc hội ban hành năm 2011 không hạn chế công dân gửi bằng chứng tố cáo chỉ cho riêng một cơ quan nào. Ngay đối với việc tố giác tội phạm hình sự, công dân có thể cung cấp bất cứ kênh thông tin nào, từ đó, đơn vị tiếp nhận chuyển chứng cứ hoặc các cơ quan tố tụng sẽ có cách tiếp nhận và xử lý. Ví dụ, thông tin tố cáo tội phạm được gửi đến báo chí. Nhưng ở đây, Bộ Giáo dục & Đào tạo tự cho mình cái quyền độc tôn tiếp nhận chứng cứ gian lận thi cử.

Quy định của một Thông tư lại phủ định quy định của luật.

Trong từ ngữ của Thông tư cũng rất không thiện chí với những người phát hiện và có chứng cứ về gian lận thi cử. “Phát tán” là từ dùng cho hành động tiêu cực, chỉ có đưa chứng cứ cho Bộ Giáo dục & Đào tạo mới tốt, còn đưa cho bất kỳ cơ quan nào đều là “phát tán”.

Xin hỏi Bộ Giáo dục Đào tạo, nếu thí sinh hoặc giám thị coi thi có được chứng cứ vi phạm quy chế thi, gửi cho báo chí, vậy thì có gọi là “phát tán” không? Cũng có thể người có chứng cứ không gửi cho báo chí mà cho công an, vậy họ có “phát tán” không?

Ngôn ngữ của Thông tư không thấy có sự đề cao việc phòng chống gian lận thi cử, khuyến khích công dân tham gia, mà làm cho người ta e ngại. Có bằng chứng vi phạm quy chế thi mà như có tài liệu “tối mật”, phải giao nộp đúng địa chỉ không thì toi.

Vì vậy mà có nhiều ý kiến cho rằng Bộ Giáo dục & Đào tạo không muốn chống gian lận thi cử nên mới ban hành Thông tư này. Nói vậy hơi quá, nhưng chính quy định của Thông tư cho thấy Bộ Giáo dục & Đào tạo lo sợ cái xấu xa, yếu kém trong thi cử bị lọt ra ngoài.

Một điều khác đáng được lưu ý, quy định của Thông tư là sai luật. Bộ Giáo dục & Đào tạo tự cho mình cái quyền hạn chế quyền tố cáo của công dân đã được hiến pháp, pháp luật quy định. Điều này chưa cần tới cơ quan thẩm định văn bản quy phạm pháp luật xem xét cũng có thể kết luận như thế, bởi vì Thông tư này vi phạm những nguyên tắc sơ đẳng nhất trong việc xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể như không để xung đột, mâu thuẫn với các văn bản luật khác.

Tại cuộc họp báo chiều 28/2, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam đã khẳng định qui định trên là trái pháp luật. Ông Đam cho biết, đã có cuộc làm việc với Lãnh đạo Bộ GD&ĐT về vấn đề này.

Lê Chân Nhân

(Dân trí)

Lưu ý: Không ít máy tính bán ở Việt Nam bị cài ‘mã độc’

18:05 |
Không ít máy tính mới được mua về tại một số cửa hàng điện tử ở Hà Nội, Sài Gòn và chưa hề qua quá trình sử dụng nhưng đã bị nhiễm nhiều phần mềm nguy hiểm, trong đó có phiên bản Zeus khét tiếng.

Báo điện tử VNExpress cho hay như vậy hôm Thứ Tư và cho biết đây là kết quả “nghiên cứu chuyên sâu về an toàn máy tính” được công ty nhu liệu Microsoft trực tiếp thực hiện tại Việt Nam.

Công ty Microsoft đã mua máy tính thuộc những thương hiệu bán phổ biến tại Việt Nam để khảo sát như Acer, Asus, Dell, HP, Lenovo và Samsung.

Một khách hàng ở Hà Nội thử chiếc máy tính được lắp ráp nội địa tại một cửa hàng. Tin cho hay nhiều người mua bị lừa vì máy tính đã bị tráo đổi linh kiện hoặc cài phần mềm giả, gồm cả mã độc. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Theo nguồn tin này, kết quả nghiên cứu cho thấy “có tới 92% trong số 41 ổ cứng trên máy tính cài hệ điều hành Windows lậu và 66% trong số 9 đĩa cài được nghiên cứu đã bị lây nhiễm. Ðây là tỷ lệ cao nhất trong các quốc gia Ðông Nam Á (trung bình 86% số đĩa cài và 48% máy tính cài Windows lậu đã bị nhiễm mã nguy hiểm).”

Trong số những mã độc bị cài sẵn để ăn cắp thông tin có cả “Zeus” là một chương trình điện toán “đặc biệt nguy hiểm.”

Theo giới chuyên viên chống ăn cắp thông tin qua máy điện toán, Zeus “là Trojan chuyên đánh cắp mật khẩu bằng phương thức ghi lại các ký tự bàn phím (keylogging) và một số cơ chế khác để đột nhập, tiếp cận nhận dạng tài khoản cá nhân, dữ liệu nhạy cảm... của nạn nhân.”

Tổ chức bảo vệ an ninh mạng RSA cho rằng những kẻ lợi dụng được mã độc Zeus đã gây tổn thất hơn $1 tỉ đô la trên thế giới trong khoảng 5 năm trở lại đây.

Theo tin trên VNExpress, cuộc khảo cứu của Microsoft cho thấy, “50% số ổ cứng trong máy tính của các thương hiệu hàng đầu (mà Microsoft mua về) đã bị người bán đánh tráo và thay bằng các mẫu HDD cấp thấp hơn có chứa sẵn phần mềm giả mạo.” Nói khác, một số cửa tiệm bán máy điện toán vì tham lam “đã cố tình bán cho người tiêu dùng không am hiểu về công nghệ những mẫu máy nổi tiếng nhưng bị tráo đổi bằng linh kiện rẻ tiền, phần mềm lậu có chứa mã độc thay vì phần mềm có bản quyền.”

Hồi giữa tháng 9 năm ngoái, Microsoft cũng đã từng báo động về tình trạng này ở cả Việt Nam và Trung Quốc. Một số cửa tiệm bán lẻ máy điện toán đã bán máy với phần mềm “lậu” để giảm chi phí và tăng lợi nhuận. Những phần mềm (nhu liệu) này bị cài mã độc và biến thành những máy chân rết của một “mạng lưới máy tính ma” (botnet) mà người chủ máy không biết.

Tháng 9, 2012, công ty Microsoft kiện tại tòa án liên bang ở tiểu bang Virginia một người Trung Quốc tên Peng Yong (Bành Dũng) lập một mạng lưới gọi là “Nitol” (botnet) núp dưới cái tên tổ chức 3322.org trên đã đẻ ra một mạng phụ gồm hơn 70,000 nữa. Hệ thống này đẻ ra hơn 7,650,000 địa chỉ tham gia vào các hoạt động bất chính.

Theo tin tức cái mạng 3322.org đã cầm đầu tới hơn 500 loại mã độc, gồm cả Nitol.

Tình trạng sử dụng các chương trình điện toán (phần mềm) lậu rất phổ biến tại Việt Nam. Tình trạng này diễn tiến suốt nhiều năm qua và nhà cầm quyền Hà Nội không có một biện pháp nào tích cực đối phó.

Theo bản phúc trình do 'Business Software Alliance' (BSA) công bố ngày 15 tháng 5, 2012, Trung Quốc là nước vi phạm bản quyền phần mềm lớn nhất. Tại Việt Nam, có đến 81% phần mềm sử dụng là đồ “lậu.”

(Người Việt)

Trần Đức Tuấn - Bốn nguyên tắc của Hiến pháp Pháp

18:23 |
Cộng hòa Pháp là một quốc gia có truyền thống dân chủ lâu đời ở châu Âu. Nhằm xây dựng “nhà nước của dân, do dân và vì dân”, Hiến pháp Pháp dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, Hiến pháp bảo vệ quyền con người

Nguyên tắc cơ bản đầu tiên đó là quyền cơ bản nhất của chon người được bảo vệ. Trong khi các quốc gia có xu hướng liệt kê các quyền con người được bảo vệ, thì Lời mở đầu của Hiến pháp Pháp năm 1958 đã viện dẫn 2 văn bản quan trọng về quyền con người: “Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789” và “Lời mở đầu của Hiến pháp năm 1946”.

Tuy nhiên, quyền sống, tự do và bình đẳng được xem là thiêng liêng, là nguyên tắc của phẩm hạnh con người, và được củng cố bằng các quyền kinh tế v�Theo Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, các quyền tự do cá nhân là vĩnh viễn và chưa đầy đủ. Vĩnh viễn theo nghĩa các quyền sẽ tồn tại, gắn với mỗi con người, mà không bị tước đoạt. Chưa đầy đủ nghĩa là việc liệt kê các quyền con người chỉ mang tính tương đối, chưa có một thước đo hoàn chỉnh nào có thể liệt kê được tất cả các quyền con người. tham gia vào đời sống xã hội dưới hình thức tập thể và cá nhân riêng lẻ.

Ngoài ra, Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 và Hiến pháp Pháp năm 1946 đã đưa ra các quy định khá cụ thể để bảo vệ các quyền con người, cũng như các quy định vừa mở để phù hợp với sự phát triển của nhận thức, công nghệ…, chẳng hạn như quyền tự do ngôn luận chưa được đề cập trong Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, nhưng nhờ những quy định mở, mà quyền này cũng được xem là bất khả xâm phạm.

Để bảo vệ các quyền con người, Hội đồng Hiến pháp có nhiệm vụ đảm bảo tất cả các luật được thông qua bởi Nghị viện phải phù hợp với Hiến pháp và các văn bản mà Hiến pháp viện dẫn.

Hội đồng Hiến pháp có chín thành viên. Tổng thống bổ nhiệm ba, Chủ tịch Quốc hội bổ nhiệm ba và Chủ tịch Thượng viện bổ nhiệm ba. Ngoài vai trò bảo vệ Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp còn có chức năng bảo đảm các cuộc bầu cử Tổng thống, bầu cử Nghị viện và Trưng cầu dân ý được thực thi đúng pháp luật.

Nhiệm kỳ của các thành viên Hội đồng Hiến pháp là chín năm (không bị bãi nhiệm và không được bổ nhiệm lại khi hết nhiệm kỳ). Điều này đảm bảo các thành viên độc lập, không bị chi phối bởi những người đã bổ nhiệm trong các tranh chấp chính trị và tư pháp.

Hai là, Hiến pháp phân quyền

Theo quy định của Điều 16 của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789, Hiến pháp, theo tinh thần Học thuyết Montesquieu, phân chia quyền lực. Quyền lập pháp được trao cho Nghị viện, quyền hành pháp trao cho Tổng thống và Thủ tướng, quyền tư pháp trao cho Tòa án.

Nhánh lập pháp: bao gồm Quốc hội (the National Assembly) và Thượng viện (the Senate)
Quốc hội được bầu thông qua phổ thông trực tiếp, dựa trên nguyên tắc đa số. Mỗi dân biểu được lựa chọn từ một khu vực cử tri, hay nói cách khác, một khu vực nhất định chỉ có một dân biểu đại diện. Điều này tránh được tình trạng “cha chung không ai khóc”. Nếu một vài dân biểu đại diện cho một khu vực, rất khó để xác định trách nhiệm của các dân biểu.

Trong khi dân biểu của Quốc hội đại diện cho người dân thì các Thượng nghị sỹ đại diện cho các quyền lực địa phương (bao gồm chính quốc Pháp và cả người có quốc tịch Pháp sinh sống ở nước ngoài). Thượng nghị sỹ được bầu thông qua phổ thông gián tiếp, bởi các dân biểu địa phương. Thượng nghị sỹ có nhiệm kỳ 9 năm, và cứ 1/3 trong tổng số 321 Thượng nghị sỹ sẽ được bầu lại 3 năm/lần.

Nhánh hành pháp: Quyền hành pháp được trao cho Tổng thống và Thủ tướng.

Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước, đại diện cho quốc gia. Các quyền quan trọng của Tổng thống bao gồm: Bổ nhiệm Thủ tướng, và các thành viên của Chính phủ theo đề xuất của Thủ tướng. Ngoài ra, Tổng thống có quyền kêu gọi trưng cầu dân ý, giải tán Quốc hội (tuy nhiên, không có quyền giải tán Thượng viện), đàm phán và thông qua các hiệp ước quốc tế, hay đề xuất sửa đổi Hiến pháp, vạch ra các chính sách quan trọng cho Chính phủ.

Tuy nhiên, quyền lực quan trọng nhất của Tổng thống bắt nguồn từ nhân dân thông qua bỏ phiếu phổ thông trực tiếp. Nếu ứng viên dành được đa số tuyệt đối (quá bán/tổng phiếu), thì ngay lập tức trở thành Tổng thống.

Trong trường hợp không có ứng viên nào dành được đa số tuyệt đối, thì 2 ứng cử viên dẫn đầu sẽ tham gia vòng thứ hai. Trong lần bầu thứ hai này, người nào dành được đa số tuyệt đối sẽ chiến thắng, trở thành Tổng thống.

Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm. Thủ tướng điều hành công việc hàng ngày của chính phủ, chịu trách nhiệm giải trình trước Quốc hội.

Nhánh Tư pháp:

Nghĩa vụ của Thẩm phán Pháp bao gồm: giải thích và áp dụng pháp luật. Hiến pháp bảo đảm các Thẩm phán độc lập và có một địa vị đặc biệt.

Pháp có hệ thống tư pháp kép, song song nhưng hệ thống cấp bậc riêng biệt: Các Tòa Dân sự và các Tòa Hình sự (cao nhất là Tòa Phá án (Court of Cassation); và các Tòa Hành chính, xét xử các tranh chấp giữa các cơ quan công quyền và cá nhân (đứng đầu bởi Conseil d’Etat). Ngoài ra, còn có Tòa Kiểm toán (Audit Court) với các trách nhiệm trong lĩnh vực ngân sách và tài chính.

Ba là, chế độ Đại nghị duy lý

Chế độ Đại nghị duy lý được hiểu là trong mối quan hệ giữa Chính phủ và Nghị viện thì Chính phủ có nhiều cách để thúc ép Nghị viện thông qua chính sách.

Chính phủ không e ngại khi đối diện với Nghị viện bởi các thành viên của Nghị viện chịu sức ép từ Chính phủ (cùng Đảng). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các thành viên này có thể lựa chọn khác, khi lợi ích của Đảng xung đột lợi ích nhân dân.

Chế độ này bảo đảm sự ổn định và quyền lực của số đông (power of the majority block).

Cuối cùng, Hiến pháp bảo đảm mối quan hệ trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với người dân

Người dân (người bị trị) chọn nhà cầm quyền thông qua bầu cử.  Nhà cầm quyền đưa ra chính sách để điều hành.  Nhà cầm quyền chịu trách nhiệm giải trình trước dân (nếu nhà cầm quyền không thực hiện được như nguyện vọng của dân, thì họ sẽ không dành được phiếu trong cuộc bầu cử sau).

Lời kết

Rõ ràng, với những nguyên tắc: Bảo vệ quyền con người, Phân quyền, Chế độ Đại nghị duy lý, Bảo đảm trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với người dân, Hiến pháp Pháp thực sự là khế ước xã hội bảo vệ các quyền lợi của các thành viên trong xã hội, cũng như đã xây dựng được một mô hình phân quyền hợp lý giữa các nhánh quyền lực. Có như vậy, người trao quyền (nhân dân) mới thực sự làm chủ, không bị mất quyền sau khi trao quyền. Những nguyên tắc này, về cơ bản, cũng là xu hướng chung trong Hiến pháp của nhiều nước dân chủ trên thế giới như Đức, Thụy Điển, Bồ Đào Nha…

(Tia Sáng)

Thế nào là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống?

23:54 |
“Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” là khái niệm chỉ những hiện tượng, biểu hiện tiêu cực, không bình thường đã và đang diễn ra trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Hiện tượng này có thể làm lung lay vị trí cầm quyền của Đảng, đe dọa đến sự tồn vong chế độ. Lần này, Hội nghị Trung ương 4, khóa XI chỉ ra khá rõ ràng, cụ thể những biểu hiện khác nhau của “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”. Đó là: “phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”.

Để quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI cần thiết phải làm rõ những biểu hiện cụ thể của suy thoái về tư tưởng chính trị và suy thoái về đạo đức, lối sống và mối quan hệ giữa chúng với nhau.

1. Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị nhìn chung là “phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định mục tiêu, sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao, không thực hiện đúng các nguyên tác tổ chức sinh hoạt đảng; là dao động, mơ hồ, mất phương hướng, cho rằng theo con đường nào, xã hội nào cũng được, phụ hoạ theo nhận thức sai trái, quan điểm lệch lạc; là nói và làm trái Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, quy định của Đảng, thậm chí a dua, xuyên tạc, bôi đen…”[1]. Suy thoái về tư tưởng chính trị thực chất là sự biến đổi theo chiều hướng xấu dần về phẩm chất chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên dẫn đến xa rời những nguyên tắc, quan điểm chính trị.

Nhìn vào thực trạng suy thoái tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên hiện nay có thể nhận thấy những biểu hiện cụ thể như:

Dao động về lý tưởng, mục tiêu và con đường đi lên CNXH. Đây là biểu hiện rõ nét nhất, tập trung nhất của suy thoái tư tưởng chính trị. Từ dao động dẫn đến hoài nghi, không tin vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, không kiên định lập trường, quan điểm, làm xuất hiện chủ nghĩa cơ hội.

Không tích cực học tập, nghiên cứu lý luận. Không ít cán bộ, đảng viên tự thỏa mãn, bằng lòng với trình độ đã có, những nhận thức đơn giản, chung chung về Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng. Học chủ yếu để lấy bằng để đủ điều kiện đề bạt, cất nhắc, nâng ngạch…

Phủ nhận thành quả do cách mạng đem lại. Dạng này xảy ra ở khá nhiều người, họ thường ca cẩm về sự thiếu thốn, lạc hậu của đất nước, chê bai đất nước và con người Việt Nam. Cao hơn là công khai bày tỏ sự nuối tiếc vì đã theo cách mạng, lãng phí thời gian tuổi trẻ của mình. Tư tưởng này thường hay dẫn đến việc xét lại quá khứ, nặng về phê phán, chỉ trích các khuyết điểm mà không tính đến hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Từ đó dẫn tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sự đúng đắn của đường lối.

Thiếu thống nhất với quan điểm, đường lối của Đảng, nói và làm không đúng với chủ trương, chính sách hiện hành. Nhiều người không thật sự thông suốt, nhận thức chưa đầy đủ, thông tin thiếu cập nhật nên cố tình hiểu sai, cắt khúc, chỉ khai thác những nội dung có lợi cho riêng mình, né tránh những vấn đề phức tạp. Sự nguy hiểm của tình trạng này là tạo ra sự nói dối, nói một đường làm một nẻo, nói là nhất trí với đường lối, chủ trương nhưng không làm hoặc làm khác đi.

Không chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng. Dạng này thường có biểu hiện “nhạt đảng”, ít coi trọng sinh hoạt đảng, không đặt mình dưới sự quản lý, giám sát của chi bộ, tổ chức đảng; báo cáo không trung thực, không nghiêm khắc tự phê bình và phê bình.

Lơ là mất cảnh giác, không kiên quyết phê phán, đấu tranh với những người có quan điểm sai trái. Một số cán bộ, đảng viên nhận được tài liệu đang lưu hành trái phép đã không báo cáo, nộp lại cho cấp ủy hoặc cơ quan chức năng mà cố tình giữ lại, sao chụp chuyển cho người khác. Hiện tượng khá phổ biến là thờ ơ với các hành động, lời nói tiêu cực của các phần tử bất mãn. Có người tán thưởng, hùa vào hoặc giữ im lặng, không tranh luận, sợ mất lòng.

Cơ hội chính trị. Tư tưởng cơ hội chính trị của một số cán bộ, đảng viên gắn liền với động cơ cá nhân, thường là từ những người bất mãn, công thần, kiêu ngạo, coi thường tập thể. Một số được nước ngoài tâng bốc, tài trợ đi đến chống đối Đảng và Nhà nước.

Việc chia tách từng nội dung là để dễ bề nhận diện, trên thực tế và trong nhiều trường hợp, các nội dung này gắn kết với nhau, từ sự suy thoái này đến sự suy thoái khác hoặc cùng một lúc có sự suy thoái trên nhiều nội dung. Cần phải lưu ý rằng, “tự suy thoái”, “tự diễn biến” là chính, dù có những tác động ngoại cảnh. Bởi vậy, suy thoái về tư tưởng chính trị là sự suy thoái rất khó nhận biết, khó phát hiện, diễn ra thầm lặng trong mỗi con người cán bộ, đảng viên. Nếu chỉ căn cứ và lời nói, việc làm nhiều khi không thấy rõ.

2. Biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức, lối sống “là sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống ích kỷ, thực dụng, vụ lợi, lo vun vén cho bản thân và gia đình, không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, để vợ (chồng), con và người thân lợi dụng chức quyền của mình để trục lợi, tiến thân; là cơ hội, hám danh, chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp…; là đố kỵ, kèn cựa địa vị, cục bộ, bè phái, gây mất đoàn kết trong Đảng; là quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, nỗi khổ của nhân dân, bất chấp đạo lý, dư luận vì lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm; là kiêu ngạo, tự phụ, gia trưởng, độc đoán, tùy tiện, vô tổ chức, tham nhũng, lãng phí, sống xa hoa, hưởng lạc.”[2].

Tính chất nghiêm trọng của suy thoái đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên hiện nay là đang có xu hướng lan rộng trong nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng mà chủ yếu tập trung vào những điểm sau:

Chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng chưa được ngăn chặn. Đó là thái độ vô trách nhiệm, chỉ lo vun vén cá nhân, kiếm lợi trước mắt, bỏ qua lợi ích lâu dài. Điều đáng lo ngại là lối sống này không chỉ diễn ra ở số cán bộ, đảng viên trẻ, ít được rèn luyện mà còn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã qua thử thách trong chiến đấu, sản xuất nay có chức, có quyền.
Lối sống cơ hội, buông thả. Các loại “chạy chọt”; bệnh thành tích, bệnh nói dối. Một số sống buông thả, sử dụng tiền công quỹ để ăn chơi sa đọa, xa xỉ vi phạm luân thường, đạo lý.
Lời nói không đi đôi với việc làm. Nói nhiều làm ít, “nói một đằng làm một nẻo”, phát ngôn bừa bãi…

Quan liêu, xa dân, thích nghe thành tích, ngại nghe sự thật. Điển hình là bệnh hình thức, bệnh thành tích đã và đang làm tốn tiền nhà nước, công sức của nhân dân.

Đạo đức nghề nghiệp không được đề cao và gương mẫu thực hiện. Có những lĩnh vực tưởng chừng như không thể xảy ra nhưng vẫn có tiêu cực, tham nhũng. Chẳng hạn như: giáo dục, y tế, cứu trợ xã hội…

Sự toan tính, vụ lợi của một số cán bộ, đảng viên có chức quyền. Điều này thể hiện tính thương mại trong hôn nhân, quan hệ gia đình, trong tổ chức cưới, đám giỗ, tân gia, mừng thọ, mừng bằng cấp…

- Tham nhũng, lãng phí là nguy cơ lớn nhất đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.

3. Từ sự nhận diện trên, xin rút ra một vài điều để tham khảo.

Thứ nhất, suy thoái về tư tưởng chính trị gắn với suy thoái đạo đức, lối sống, hai mặt này gắn bó, tác động qua lại với nhau. Vì thế, có thể xác định suy thoái tư tưởng chính trị qua đạo đức, lối sống và cũng có thể nhìn vào đạo đức, lối sống để nhận biết được suy thoái về chính trị tư tưởng trong mỗi cán bộ, đảng viên. Trong các văn kiện của Đảng, hai loại suy thoái này đều được Đảng ta xem xét ngang nhau trong nhận thức, động cơ, thái độ và hành vi của cá nhân, tổ chức và trong hậu quả chính trị, xã hội mà nó gây ra.

Thứ hai, thông thường sự suy thoái về đạo đức, lối sống dễ nhận thấy và xuất hiện trước. Khi sự suy thoái này kéo dài không được ngăn chặn sẽ xuất hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Trong thực tế, có nhiều trường hợp suy thoái về tư tưởng chính trị (sự vô tổ chức, kỷ luật; vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng…) xuất hiện trước và là nguyên nhân đưa đến suy thoái về đạo đức, lối sống. Tuy nhiên, cũng có trường hợp do nhận thức, do quan niệm về lý tưởng sống cho nên có sự suy thoái về tư tưởng chính trị nhưng không có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống cá nhân.

Thứ ba, trong tổ chức đảng, đôi khi chỉ cần một vài người, nhất là lãnh đạo chủ chốt suy thoái thì có thể làm suy thoái nhiều người trong tổ chức.

Thứ tư, suy thoái về tư tưởng chính trị là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tệ quan liêu, đồng thời quan liêu là sự hiện thực hóa sự suy thoái về tư tưởng chính trị. Vì thế, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị phải đi liền với việc chống quan liêu. Hơn nữa, suy thoái tư tưởng chính trị cùng với quan liêu là nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, lãng phí và tham nhũng là biểu hiện cao nhất của sự suy thoái về đạo đức, lối sống. Khi tham nhũng, lãng phí không được ngăn chặn sẽ tác động trở lại làm cho suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống diễn ra nhanh và khó kiểm soát hơn. Tuy nhiên, trong thực tế không phải tất cả những người suy thoái về tư tưởng chính trị đều tham nhũng, lãng phí.

ThS. Nguyễn Văn Hào

(Học viện Chính trị – Hành chính khu vực III)

Lòng Yêu nước là gì?

18:08 |
trong dong dacgiao
Lòng yêu nước thông thường được định nghĩa là tình yêu và sự tận tâm với đất nước và lý tưởng của đất nước. Một niềm tin mạnh mẽ vào chủ nghĩa dân tộc, mà vốn là sự hiến dâng cho các lợi ích quốc gia, cũng thường được bao gồm trong định nghĩa của lòng yêu nước. Lòng yêu nước cũng dùng để chỉ ý thức đoàn kết giữa các cư dân của một quốc gia, đặc biệt là người bản xứ của vùng đất  đó, và một ý chí vững chắc để duy trì một chính phủ có chủ quyền. Tất nhiên, những người yêu nước cũng thường xem độc lập dân tộc là cần thiết để bảo vệ các công dân và lối sống của họ. Một người có thể yêu nước đối với xứ sở nơi họ là công dân hoặc thường trú, hoặc một người có thể là yêu nước, hướng về quê hương mình, ngay cả khi người đó không phải là công dân và không sống trên đất nước.

Trong một số trường hợp, có tình yêu và tận tụy với quốc gia không có nghĩa là có một tình yêu và tận tụy với chính phủ của đất nước đó. Một người có thể tin tưởng vào các nguyên tắc mà dựa vào đó quốc gia được thành lập, nhưng có thể tin rằng Do đó, những người có thể tin rằng phản đối chính phủ hiện tại thúc giục chính phủ trở về các nguyên tắc lập quốc mới là yêu nước.

Mặc dù người yêu nước thường nhất trí về định nghĩa cơ bản của tinh thần ái quốc, nhưng họ không luôn luôn đồng ý về việc người yêu nước phải phản ứng như thế nào khi phải đối mặt với một quyết định unge hộ hoặc chống lại các quyết định và chính sách của đất nước. Ý hiến cá nhân và quan điểm chính trị, địa vị xã hội, tín ngưỡng tôn giáo và kinh nghiệm sống có thể ảnh hưởng đến niềm tin về định nghĩa của lòng yêu nước. Ví dụ, một người tận tâm với đất nước có thể không đi xa tới mức ủng hộ quyết định để quốc gia mình đi đến chiến tranh. Họ có thể phản ứng theo những cách khác nhau, chẳng hạn như tham gia vào các cuộc biểu tình công khai chống lại chiến tranh trong khi lại ủng hộ đát nước trong các quyết định khác, hoặc từ chối làm lính chiến đấu cho dân tộc. Những người khác thì tin rằng sự thể hiện lòng yêu nước thật sự trong tình hình như vậy phải là chấp nhận quyết định đi đến chiến tranh của quốc gia bằng cách từ chối biểu tình công cộng, trong một số trường hợp bằng cách gia nhập quân đội, hoặc bằng cách hỗ trợ quân đội của đất nước và chính quyền.

Tôn giáo của một người cũng có thể ảnh hưởng đến định nghĩa của mỗi cá nhân về người yêu nước. Ví dụ, các thành viên của một tôn giáo là công dân của một quốc gia được cai trị bởi một tôn giáo khác thường chứng thể hiện lòng yêu nước đến một mức độ nhất định, bởi vì niềm tin của họ là họ nên theo tôn giáo của họ hơn là theo chính phủ. Nếu đức tin của họ cuộc xung đột với chính phủ, họ thường chọn theo niềm tin tôn giáo của họ.

Những người được đối xử như công dân hạng hai cũng có thể có giải thích khác nhau về định nghĩa một người yêu nước. Các thành viên của một tầng lớp nhân dân bị áp bức, chẳng hạn, không có thể yêu nước mình theo cùng một cách như các thành viên của các tầng lớp khác. Đối với họ, lòng yêu nước có lẽ được thể hiện nhiều hơn như là một niềm hy vọng vào sự thay đổi ở đất nước mình.
Nguyễn Quang dịch, WiseGeek

Hành động! Hành động! Hành động!

17:14 |
Tự do và dân chủ không thể nào được ban phát. Phải đấu tranh giành lấy nó. Mỗi người hãy cố gắng góp một viên gạch, một hạt cát bé nhỏ ngay từ lúc này. Tương lai của đất nước, của dân tộc, của con cháu, của tiếng Việt, của văn hóa Việt nằm trong chính hành động của chúng ta hôm nay. Với nỗ lực của tất cả mọi người, ngày đoàn tụ với các anh chị em anh hùng Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Đoàn Văn Vươn... sẽ không xa...
*

Những hiểm họa:

Hiểm họa thứ nhất: TỤT HẬU

Hiểm họa này đã, đang và sẽ tồn tại ở Việt Nam nếu chúng ta không hành động. Nhờ sự lãnh đạo “tài ba” của đảng CS mà chúng ta đã TỤT HẬU so với các nước quá nhiều và quá xa. Nông nghiệp: Tuy có xuất khẩu gạo nhiều, nhưng nông dân chúng ta vẫn phải canh tác và thu hoạch bằng những phương tiện rất thô sơ. Còn dân chúng lại ăn uống rất nhiều thứ ngoại nhập độc hại. Công nghiệp: chúng ta chưa hề sản xuất một cái máy nào ra hồn. Khoa học: không có một đội ngũ khoa học mạnh trong tất cả các ngành. Hiện tượng sao chép, đạo văn rất phổ biến. Giáo dục và đào tạo: rất cồng kềnh, học sinh sinh viên học vất vả nhưng kiến thức nhận được không là bao. Sử nước Việt hầu như bị quên lãng. Y tế: chậm tiến, phụ thuộc và quá tải. Kinh tế: nhờ vào những quả đấm của Chính phủ mà nền kinh tế chúng ta lụn bại, nợ nần chồng chất, không phương cứu chữa và là gánh nặng cho thế hệ mai sau... Chúng ta đang TỤT HẬU TOÀN DIỆN.

Hiểm họa thứ hai: BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN CỒNG KỀNH, QUAN LIÊU, THAM NHŨNG VÀ BẤT LỰC

Để đối phó với những hiểm nguy cho đảng, đảng CSVN phải tạo ra những cơ quan hưởng lợi trên tiền thuế của dân để thực hiện duy nhất việc bảo vệ đảng. Đảng phải cho họ nhiều bổng lộc để đổi lấy sự trung thành. Sự quan liêu và tham nhũng thì quá rõ như ban ngày. Từ thời ông Đỗ Mười, tham nhũng còn ít mà ông ta còn tặng 1 triệu đô thì đến thời của Thủ Tướng X mức tham nhũng đã lên đến báo động. Điều nguy hại lớn là vì ăn cắp, ăn cướp được số tiền để vinh thân phì gia cho đến hàng mấy thế hệ rất dễ dàng nên quan lại không còn có khả năng tư duy, họ trở nên càng ngày càng trì trệ, bảo thủ và không coi bất cứ ý kiến đóng góp nào của dân ra gì cả.

Hiểm họa thứ ba: MẤT NƯỚC

Hiện tại chúng ta chưa mất nước trên danh nghĩa nhưng sự xâm lược và mất độc lập tự chủ đã và đang xảy ra. Về chính trị, Trung Quốc đã can thiệp vào nội bộ tổ chức đảng cộng sản và Chính phủ Việt Nam. Về ngoại giao, Việt Nam hoàn toàn không có đường lối ngoại giao độc lập vị sợ phật lòng 4 Tốt và 16 chữ vàng (khè). Về kinh tế, chúng ta đã bị xâm lược quá sâu. Đa phần các mặt hàng được dùng trên đất nước Việt Nam này đều được làm ở Trung Quốc. Các công ty Trung Quốc trúng thầu vào các dự án lớn ở Việt Nam càng ngày càng nhiều. Thật chua xót khi hàng thực phẩm của Trung Quốc lại tràn lan chiếm lĩnh thị trường cua một nước thuần nông như Việt Nam. Về quốc phòng: Trung Quốc đang ngự trị trên các đỉnh cao chiến lược của Việt Nam như rừng đầu nguồn phía Bắc, cao nguyên Tây Nguyên miền Trung. Về chủ quyền lãnh thổ, chúng ta đã mất nhiều lãnh thổ, lãnh hải. Nói ra càng đau lòng. Đau xót nhất là đảng và Nhà nước Việt Nam đã HÈN VỚI GIẶC, ÁC VỚI DÂN VÀ CAM TÂM BÁN NƯỚC.

Hiểm họa thứ tư: LÒNG DÂN LY TÁN, RÃ RỜI

Người dân ta được đảng cho hưởng hết quả lừa này đến quả lừa khác đã không còn một lòng tin nào nữa. Nguy hiểm nhất là để sống chung với đảng dân bắt buộc phải dối trá, sống hai mặt. Và ĐẠO ĐỨC GIẢ LÊN NGÔI KHÔNG PHƯƠNG CỨU VÃN. Ngày ngày, báo chí của đảng vì không thể viết cái gì khác nên phải khai thác các chủ đề hình sự như đâm, chém, hiếp, lộ,... nên người dân vừa tha hóa hơn vừa sợ hãi hơn. Từ ngày đảng cộng sản lên nắm chính quyền đến nay, dân Việt Nam ta chưa có được một ngày bình yên thì làm sao mà không rã rời, ly tán. Rồi chứng kiến bao nhiêu hiểm họa đang lơ lửng trên đầu như đã nói trên mà chính quyền càng ngày càng bất lực, ý kiến nhân dân càng ngày càng bị khinh rẻ thì lòng dân làm sao mà khỏi ly tán, rã rời. Hiểm họa này mới cốt lõi, vì thế nếu khi đấu tranh mà không chú ý đến điều này thì hiểm họa MẤT NƯỚC tất yếu sẽ xảy ra kể cả khi chính quyền nhân dân thực sự được thiết lập.

Trong mấy năm gần đây, ai ai cũng chứng kiến sự bất lực và bảo thủ của chính quyền độc tài, nhưng nếu chúng ta những con dân nước Việt cũng buông xuôi thì ai sẽ là người cứu nước?!

KHÔNG!
CHÚNG TA PHẢI HÀNH ĐỘNG!!!
Chúng ta không còn chỗ để lùi nữa!
CHÚNG TA PHẢI HÀNH ĐỘNG!!!
Chúng ta không thể nào làm ngơ trước tương lai của con cháu chúng ta, của tiếng Việt, của văn hóa Việt!
CHÚNG TA PHẢI HÀNH ĐỘNG!!!

Khi đã nhận thức tầm quan trọng của việc nhất định phải hành động thì chúng ta hãy cùng nhau chung sức bằng mọi giá để hành động. Bằng mọi giá không có nghĩa là đòi hỏi mọi người ai cũng phải cống hiến hết, sẵn sàng mất hết để đánh đổi cái gì đó. Không, điều chúng ta cần làm chỉ đơn giản là HÃY LUÔN SUY NGHĨ, TÌM TÒI ĐỂ HÀNH ĐỘNG KỊP THỜI.

1. MỤC ĐÍCH HÀNH ĐỘNG:

Có ba mục đích chính:

- Hạ bệ Chính quyền độc tài đảng trị.
- Thiết lập chính quyền dân chủ có uy tín và trách nhiệm thật sự.
- Phục khí dân tộc, chấn hưng quốc gia.

2. PHƯƠNG THỨC HÀNH ĐỘNG:

Như trên đã nói, vì lòng dân đã quá rã rời và ly tán rồi nên nhất thiết phải chọn phương thức đấu tranh tránh đổ máu và huy động được sức lực của toàn dân. Chúng ta không thể để cho lòng dân bị hoang mang rã rời thêm sẽ tạo tiền đề cho chúng ta MẤT NƯỚC thật sự. Vì thế, phương thức hữu hiệu nhất bây giờ là: ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG. Tuy nhiên, không loại trừ các phương thức khác tùy theo nhu cầu từng giai đoạn của cuộc đấu tranh.

Tuy gọi là bất bạo động nhưng phương thức này rất tích cực, có thể tạo được thế đấu tranh ôn hòa cho toàn dân, ai ai cũng có thể tiến hành được. Với điều kiện Internet hiện nay thì thậm chí có thể ngồi ở nhà, ta cũng có thể tiến hành đấu tranh. Ngài Gandhi đã giành lại độc lập cho Ấn Độ bằng phương thức đấu tranh này.

Thật ra, phương thức này đã có từ thuở xa xưa, thậm chí có từ trong máu của từng người chúng ta và ngay lúc này đây ai ai trong chúng ta cũng đang thực hiện nó mà không nhận ra. Ví dụ, trẻ con khóc hờn để yêu sách bố mẹ chính là phương thức đấu tranh bất bao động, Chu Văn An treo ấn từ quan là đấu tranh bất bạo động, quý bà áo mặc trắng diễu hành ở La Habana là đấu tranh bất bạo động.

Vì vận dụng được ý chí, sức mạnh và trí tuệ toàn dân nên phương thức này biến hóa khôn lường và luôn gây cho đối phương những bất ngờ khốn cùng.

3. MƯỜI TÍNH CHẤT CỦA ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG:

3.1 Công khai. Cuộc đấu tranh này là công khai. Đối phương tuy biết trước một số điểm nhưng sẽ hoàn toàn bất ngờ về quy mô, vấn đề được đề cập lẫn thời điểm.

3.2 Số đông. Khi ta không tấc sắt nào trong tay hiển nhiên để đấu tranh bất bạo động thành công thì phải nhiều người cùng đồng lòng thực hiện.

3.3 Lây lan. Vì thực hiện bởi số đông nên cơ hội truyền trao hay lây lan rất lớn. Thứ nhất là nhờ vào mối quan hệ của người tham dự và người chưa tham dự, thứ hai, là nhờ vào trường thông tin đã được mở rộng và được phát đi với cường độ mạnh (vì nhiều người nên bàn được nhiều vấn đề và cùng rỉ tai cho một người càng nhiều). Ví dụ, trước đây, có người còn chao đảo thì họ ít gặp những người khác để trao đổi về hướng ngược với chính quyền còn bây giờ số người đối lập với chính quyền càng ngày càng nhiều. Thực tế đã chứng minh điều đó.

3.4 Bền bỉ. Để đấu tranh với chế độ độc tài kiên quyết giữ quyền lực, xảo quyệt và sẵn sàng chà đạp lên đạo đức thì đám đông phải đấu tranh bền bỉ.

3.5 Đơn giản. Không cần phải nhọc sức để chế tạo súng ống, xe tăng, tàu chiến. Vì tận dụng trí tuệ toàn dân nên việc nghĩ ra các hình thức đơn giản là việc làm không quá khó.

3.6 Thích nghi. Điều kiện của xã hội thay đổi đến đâu thì đấu tranh bất bạo động cũng thay đổi đến đó. Ví dụ, với điều kiện Internet bây giờ thì đấu tranh bất bạo động được thực hiện bởi hàng trăm ngàn bloggers và những bình luận viên.

3.7 Liên tục và bám chặt. Khi đối phương đưa ra bất kỳ động thái nào thì cộng đồng tranh đấu bám chặt lấy đó để bình luận, chế giễu, bác bỏ... Và việc đó phải được làm liên tục, phủ khắp các vấn đề. Ví dụ vụ Chính chủ, vụ sửa đổi hiến pháp,…

3.8 Giữ vững và phát huy. Khi đối phương nhượng bộ một vấn đề gì đó thì giữ chắc thành quả tiếp tục triển khai các hướng khác. Cũng vì là cuộc đấu tranh của toàn dân nên đối phương lúc này khó lật lọng và cuộc chiến lại cam go ở những vùng tranh chấp khác.

3.9 Cộng hưởng. Yếu tố này cực kỳ quan trọng. Đấu tranh bất bạo động muốn thắng lợi thì phải có cộng hưởng tạo nên cao trào như vũ bão. Ví dụ như cao trào cách mạng màu của các nước thuộc Liên Xô cũ, cách mạng hoa nhài... Muốn có cộng hưởng thì việc trước tiên phải đồng bộ, cùng nhịp. Tiến thoái phải có chủ đích. Khi bị đàn áp bắt buộc phải thoái cũng cần nghĩ ngay đến cách đấu tranh để tránh đàn áp; khi tiến thì chiếm lĩnh, bám chặt chờ thời cơ chín muồi lúc đối phương rối ren, gây sai lầm tai hại trên nhiều vấn đề thì đồng loạt tấn công như vũ bão, liên tục không được phép cho đối phương ngừng nghỉ. Khi sức mạnh đấu tranh đạt cực điểm chạm đến tuyến phòng ngự yếu nhất của đối phương thì đó là lúc đối phương phải chọn lựa hoặc đem súng ra để bắn vào dân thì trước sau cũng mất hết (như trường hợp Gaddafi), hoặc thương thuyết thì sẽ gỡ gạc phần nào.

3.10 Dứt điểm. Dứt điểm là đặc tính của các cuộc đấu tranh thành công nói chung chứ không riêng gì đấu tranh bất bạo động. Nhưng trong đấu tranh bất bạo động, cơ hội Dứt điểm lớn hơn nhiều. Vì thế khi chúng ta đã chọn phương thức này thì phải kiên trì, bền bỉ để giành đến thắng lợi cuối cùng. Dứt điểm ở đây không có nghĩa là tiêu diệt hết phe chính quyền độc tài mà chỉ là đạt được ba mục đích đã nói trên.

4. CHỦ THỂ CỦA HÀNH ĐỘNG:

Hiển nhiên đó chính là tất cả chúng ta, là toàn dân Việt Nam đang bị sự áp bức của Cộng Sản. Nói đúng ra, chúng ta vừa là CHỦ THỂ vừa là ĐỐI TƯỢNG của hành động. Khi ta đã hiểu rõ bản chất Cộng sản sẵn sàng tham gia vào đấu tranh và có ý lôi kéo một ai đó cùng hành động thì ta là CHỦ THỂ còn ai đó là ĐỐI TƯỢNG. Nhưng khi họ đã tham gia thì họ cùng chúng ta là CHỦ THỂ. Thậm chí cùng một lúc chúng ta có thể vừa CHỦ THỂ vừa ĐỐI TƯỢNG. Ví dụ, ta chỉ tham gia mục đòi cải thiện đời sống cho công nhân, chúng ta cổ xúy cho công đoàn độc lập ngoài vòng kim tỏa của đảng cộng sản nhưng chúng ta không thích tham gia vào đấu tranh dân chủ. Dần dà chúng ta nhận ra nhờ sự truyền bá cua người khác rằng đảng sẽ không chấp nhận Công đoàn độc lập vì điều đó làm lung lay vị trí độc tài của đảng. Lúc đó chúng ta nhận thấy không đấu tranh cho Dân chủ thì Công đoàn độc lập cũng không khi nào được có.

Cụ thể, theo tôi có ba lực lượng chính sau:

- Nhân dân trong nước. Lực lượng này là Nòng cốt.

- Kiều bào sống hải ngoài. Lực lượng này có nhiều thuận lợi khi tiếp cận thông tin và nguồn lực khác. Có tự do để không e ngại bất cứ thứ gì và Lực lượng này không thể thiếu vì nó là cầu nối rất hiệu quả giữa Lực Lượng thứ nhất với Lực lượng thứ ba đầy quyền lực. Tuy nhiên, vì sống trong lòng các nước Dân chủ lâu ngày nên lực lượng có nguy cơ “Giáo điều Dân chủ”. Tại sao gọi là “Giáo điều dân chủ”? Vì cứ nghĩ các nước như thế thì tại sao ta không được như thế và cái đà suy nghĩ bám chấp này nó quay lại làm cho lực lượng này không hiểu thấu đáo được hành động của Nhân dân trong nước. Từ đó dễ gây nên một nguy cơ lớn có ảnh hưởng đến “Cộng hưởng” (ở trên) là Lực lượng này không hòa nhịp với Lực lượng trong nước.

- Các Tổ chức quốc tế. Đấy là các nước dân chủ, các tổ chức đa quốc gia như Hội văn bút thế giới, hội ân xá, Tổ chức minh bạch, Tòa án nhân quyền... thậm chí là các công ty đa quốc gia như Apple, Google…

Vì nòng cốt là Nhân Dân trong nước, vậy nhóm trọng tâm để ta bắt đầu phản ứng dây chuyền là những nhóm nào? Theo tôi có ba nhóm chính họ vừa là CHỦ THỂ vừa là ĐỐI TƯỢNG của cuộc đấu tranh bất bạo động:

- Những người yêu Dân chủ, Nhân quyền và Đa nguyên. Ví dụ, nhóm 8406 thuộc nhóm này.

- Những người yêu nước Việt Nam, căm thù giặc Trung Quốc xâm lược. Ví dụ, nhóm nhân sỹ biểu tình chống Trung Quốc thuộc nhóm này.

- Những người bị áp bức, hà hiếp, bóc lột bởi chính quyền các cấp. Bà con nông dân Văn Giang, Dương Nội, các dân oan đang ở các vườn hoa Hà Nội thuộc nhóm này.

Dĩ nhiên, không có nghĩa người yêu Dân chủ thì không yêu nước hoặc ngược lại. Nói như vậy để cho thấy từng nhóm có một mối quan hệ đối kháng riêng đối với chế độ độc tài. Để tiện việc đấu tranh, kích thích, chúng ta cần chú ý một điểm khác biệt cơ bản giữa các nhóm là: nhóm một gồm nhiều trí thức trung lưu không phải đảng viên sẵn sàng đối đầu với đảng cộng sản khi cần thiết; nhóm hai gồm nhiều trí thức thượng tầng, có nhiều đảng viên, hầu hết những người trong số họ đều có bổng lộc từ Nhà nước (chiêu bài Sổ hưu cũng ảnh hưởng mạnh đến nhóm này) nên ngại đối kháng trực tiếp với chính quyền cùng với nhóm dân thường; nhóm ba lại là tầng lớp dưới bị áp bức đến bần cùng, bị hà hiếp đến oan khiên, một số họ là đảng viên nhưng cũng chán đảng và tự ra khỏi đảng từ lâu. Điều này cho ta thấy một điểm quan trọng là sự bất bình với đảng thống trị đã nằm ở diện rộng và sâu.

5. BẢY PHƯƠNG PHÁP ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG:

5.1 Tỏ thái độ:

Tỏ thái độ phản đối hoặc không đồng tình với Chính quyền, tỏ thái độ đồng tình với những người đối lập với chính quyền. Hình thức và nội dung của phương pháp Tỏ thái độ rất đa dạng và phong phú. Có thể lấy câu tục ngữ xưa chín người mười ý thì chín người có mười cách (hay nhiều hơn) tỏ thái độ.

Biểu tình là một cách tỏ thái độ. Cách này đem đến thắng lợi của các cuộc cách mạng màu và cách mạng Mùa xuân Ả rập.

Hiệp thông với nhau như các linh mục hiệp thông với Thượng Tọa Thích Không Tánh cũng là tỏ thái độ. Sự thăm hỏi động viên của các trí thức và bà con Văn Giang, Dương Nội với gia đình anh Vươn là một hành động tỏ thái độ bằng hiệp thông. Hiệp thông có thể nói là một trong các cách thức mạnh nhất, hữu hiệu nhất để đấu tranh bất bạo động.

Đem đặt vòng hoa với mục đích mà chính quyền không thích cũng là cách tỏ thái độ.

Cởi trần truồng như hai mẹ con bà nọ cũng là cách tỏ thái độ.

In biểu tượng No U lên áo mình – tỏ thái độ.

Viết bài ca “Anh là ai” – tỏ thái độ.

Viết bài “17.02 - Ngày ấy và bây giờ” – tỏ thái độ.

Chào nhau bằng hình ảnh hai ngón tay chữ V (Việt Nam - Victory - Ý tưởng của nhóm Ta Là Một) - tỏ thái độ.

In biểu tượng tẩy chay hàng Trung Quốc như vợ chồng Thành Nguyễn và Trịnh Kim Tiến cũng là cách tỏ thái độ.

Tạo những trưng cầu ý kiến trên mạng là cách tỏ thái độ.

Sáng tác một clips hay một tác phẩm hài để giễu là cách tỏ thái độ.

v.v...

Lưu ý hai điểm:

a. Tỏ thái độ bằng bất cứ cách gì. Khi đã tham dự vào đấu tranh bất bạo động, chúng ta phải tỏ thái độ. Bạn có thể tìm cách phù hợp cho mình nhưng không nên im lặng. PHẢI TỎ THÁI ĐỘ.

Điều này rất đơn giản vì bạn có thể chọn lấy cường độ Tỏ thái độ của mình.

Ví dụ, trường hợp xe chính chủ:

Những người ở hải ngoại có thể viết: Ôi bọn Cộng nô tiêu xài hết tiền rồi xoay qua bóc lột thêm những người có xe khốn khổ.

Những người có khả năng viết lách thì viết: Tại sao khi ban hành chưa điều nghiên cho kỹ càng, tại sao dân chúng đã khó khăn rồi còn muốn cho dân khó khăn hơn…

Hoặc sáng tác Clip: “Hitler chống chủ trương xe chính chủ” như trên Youtube có chiếu.

Nếu bạn e ngại, bạn có thể đơn giản viết trên FB của mình: “Chính chủ - Chỉnh chú thì có!!!”, “Chính chủ - chết thật, lại mất tiền”...

Thêm một ví dụ nữa:

Nếu có lời kêu gọi như sau: “Nhân ngày xx.yy.zzzz kỷ niệm 5 năm vụ án bỏ túi của Cộng sản đưa anh Cù Huy Hà Vũ vào tù, tất cả chúng ta ra đường bằng bộ áo quần sọc đen trắng.”

Có người thì mang đúng bộ áo tù. Có người điều kiện hôm đó không thể mang được thì có thể dán trên xe của mình bộ áo tù và hình ảnh của anh Cù Huy Hà Vũ. Còn nếu ai đó còn e dè nữa thì đơn giản thay đổi avatar hoặc ảnh trên trang chính FB mình bằng hình gì đó chỉ ngục tù trên đấy ghi ngày tháng anh Cù Huy Hà Vũ vào tù-chỉ cần như vậy thôi không cần tên tuổi của ai.

KHÔNG IM LẶNG - PHẢI TỎ THÁI ĐỘ!

b. Với bất kỳ cách nào thì ảnh hưởng của Tỏ thái độ mạnh lũy tiến theo số người tham dự. Điều này quá là hiển nhiên. Ví dụ khi có cuộc phát động “Để tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ hy sinh trong trận chiến giữ Hoàng Sa kêu gọi mọi người tham dự đặt vòng hoa tại tượng đài Nguyễn Huệ. Khi đi mang áo trắng và có cài miếng vải hình thoi màu đen”, bạn có thể đi tham dự, nếu không thì cố mang áo trắng có cài tấm vải màu đen, bạn có thể sáng tạo thêm là in trên miếng vải màu đen ngày 19.01, chữ NVT, chữ HS,... Nếu có con cái đến trường thì mang đồ trắng cho chúng và đính kèm tấm vải màu đen... Hoặc nếu không tham dự, cũng không tiện mặc đồ trắng thì hãy đội mũ, đeo găng tay màu trắng, cài biển đen trên áo có in các hàng chữ như trên cũng như có thể biểu thị chúng trên phương tiện đi lại của mình. Nếu chúng ta đồng lòng làm, lúc chứng kiến trên đường phố Hà Nội rợp màu trắng thì đó không khác gì một bản tiến quân ca hùng tráng. Do đó, chúng ta nên bằng mọi cách thuyết phục người khác cùng làm theo. Bạn có thể tag, share hình ảnh, bài viết nội dung nhẹ nhàng lên trên FB hay blog của bạn mình.

5.2 Yêu sách:

Viết thư ngỏ, kiến nghị, yêu cầu, tuyên bố, thông cáo... để đưa ra yêu sách của mình. Việc đưa Kiến nghị sửa đổi Hiến Pháp của các nhân sỹ vừa rồi chính là sử dụng phương pháp Yêu sách. Nên lưu ý hai vấn đề: thứ nhất, yêu sách phải đúng với tên gọi của mình. Theo tôi, nếu yêu cầu trả tự do cho Nguyễn Phương Uyên thì nên dùng kiến nghị hoặc thư yêu cầu, còn do Hiến pháp là của toàn dân, biểu thị quyền lực của Nhân Dân thì phải viết thông cáo để đòi. Thứ hai, không để bất cứ yêu sách nào vào quên lãng. Kiến nghị được biểu tình của Nhóm 42 là một ví dụ đã bị vào quên lãng. Bọn độc tài vì quyền lợi của mình chúng sẽ loanh quanh, im lặng. Nhưng chúng ta không được phép làm thế cũng vì quyền lợi của chúng ta. Chúng ta có thể tăng cường độ hoặc đổi hình thức chứ không để bất cứ yêu sách nào trôi vào quên lãng. Ví dụ, sau khi nhận thư trả lời Kiến nghị sửa đổi Hiến Pháp vừa rồi của ông Phan Trung Lý thì nhóm nhân sỹ trả lời ngay thế là hợp lý. Có thể tiếp tục viết bài giải thích cho nhân dân thấy hành động của ông Phan Trung Lý là hành động bất tuân pháp luật. Và tăng cường độ lên bằng Bản Tuyên Bố: Nhận thấy rằng... Chúng tôi tuyên bố hành động kêu gọi sửa đổi Hiến Pháp là hành động mị dân, đánh lừa dư luận quần chúng... Sau Tuyên Bố có thể ra Thông cáo phủ nhận Hiến Pháp... Rất nhiều hình thức do các bộ óc của Nhân dân chọn lựa. Nhưng phải liên tục và bám chặt.

5.3 Đáp trả:

a. Đáp trả lại khi Chính quyền không thỏa mãn toàn bộ hay từng phần yêu sách của chúng ta. Ví dụ, khi họ không chấp nhận Kiến nghị sửa đổi Hiến Pháp thì chúng ta cũng có thể Đáp trả bằng Tuyên bố việc kêu gọi sửa đổi Hiến Pháp là hình thức, mị dân và bịp bợm.

b. Đáp trả những hành động khủng bố mà chính quyền gây nên cho một hay nhiều thành viên trong phong trào. Để đáp trả chúng ta cần có những biện pháp hỗ trợ tôi viết ở mục dưới. Ví dụ, khi người ta tuyên bố án tù cho anh Điếu Cày thì tất cả các lực lượng nội công ngoại kích đều lên tiếng bằng các hình thức: lên án, kêu gọi thế giới lên án, viết bài phản bác bản án, tuyên bố và lấy chữ ký bác bỏ phiên tòa bất công, các bloggers thì bằng nhiều hình thức phản đối, nếu bạn chưa đủ dũng khí thì chỉ cần đăng lên blog cua mình hình cái điếu cày và một câu comment I love you chẳng hạn. Một hình thức khá mạnh nữa là kết án ngược lại. Tức chúng ta dùng e-tòa án hay e-tư pháp để kết án tên chánh án, những tên thẩm phán và bọn công an dưới quyền đang kèm kẹp anh Điếu Cày. Bất cứ một hành động thô bỉ nào đối với những cá nhân hay tổ chức có uy tín của phong trào cũng phải có ngay động thái đáp trả. Ví dụ tên bịt miệng Linh mục phải bị đưa ra e-tòa án để xét xử và kết tội Tay sai cho hắn. Hãy làm cho chúng run sợ (sợ miệng thế gian lẫn sợ bị xét xử thật sau này) từng cá nhân cho đến cả tập thể đảng cầm quyền.

c. Đáp trả lại những chiêu bài, luận điệu mị dân. Khi gặp một bài viết quá thối của bọn văn nô, bưng bô có thể chúng ta kêu lên: “Ôi dào, bài viết tệ thế này mất công phản bác làm gì!”. Tôi cho rằng đó là một tư tưởng sai lầm. Chúng viết tệ nhưng chúng có một đống phương thức tuyên truyền hiệu quả và người dân không phải ai cũng có trình độ cao để nhận thấy những luận điệu sai lầm của chúng. Hãy phản bác chúng dưới nhiều góc độ cho chúng thấy dương dương tự đắc là không được. Ví dụ, việc tấn công tên PGS TS Tú và mụ đạo diễn Lan như vừa rồi là đúng cách. Mạnh hơn nữa hãy tổ chức phiên tòa kết án tội “Tay sai” hay tội “Văn nô bưng bô” cho chúng (một lần nữa sử dụng e-tòa án). Thậm chí, tổ chức nhiều giải như “Bưng bô hạng nhất”, “Vô lại hạng đặc biệt”… cho tất cả bọn chúng khi có dịp (vào cuối năm chẳng hạn). Bọn văn nô và bưng bô phải nhận lấy những hậu quả do việc làm chúng gây nên. Điều này có tác dụng răn đe để chúng run sợ, thậm chí dần dần quay đầu về với nhân dân.

5.4 Bất tuân phục

Bất tuân phục là chúng ta bằng nhiều cách không phục tùng mệnh lệnh của chính quyền. Các hình thức: lãng công, đình công, bãi thị, bãi học... Ví dụ như trường hợp đi đặt vòng hoa ở trên: nếu bạn vì lý do gì đó không đi được thì bạn có thể đấu tranh bằng cách bất tuân phục như: học sinh, sinh viên thì nghỉ học; giáo viên thì cáo ốm không đến trường trong ngày hôm đó.

5.5 Bất hợp tác

Đây là một phương pháp rất hiệu quả và tích cực. Phương pháp này cô lập và cắt bớt vây cánh của chính quyền độc tài. Có rất nhiều cách thức bất hợp tác như bất hợp tác xã hội, bất hợp tác kinh tế, bất hợp tác chính trị và thậm chí bất hợp tác quân sự.

Tẩy chay các hoạt động của chính quyền độc tài là một bất hợp tác chính trị với mục đích chỉ rõ ra những động thái này của chính quyền chỉ lừa bịp vào mị dân. Nếu như vừa rồi các trí thức nhân sỹ không làm Kiến nghị mà làm tuyên bố tẩy chay thì gây ảnh hương mạnh hơn nhiều. Có thể tẩy chay bầu cử, tẩy chay những hoạt động văn hóa…

Ra khỏi hàng ngũ của đảng cầm quyền hoặc ra khỏi hàng ngũ chính quyền. Một lời tuyên bố của một nhóm lớn nhân sỹ trí thức ra khỏi hàng ngũ của đảng cầm quyền sẽ gây tổn hại uy tín của đảng một cách trầm trọng, đôi khi là không phương cứu chữa vì có thể xảy ra các phản ứng dây chuyền không kiểm soát được tốc độ.

Không hưởng bổng lộc của chính quyền độc tài. Nếu anh kiên quyết ra khỏi hàng ngũ cua chính quyền thì anh cũng nên cắt đứt đi sợi dây nối bức thiết giữa anh với người anh chống đối.

Không giao du hoặc làm ăn với những công bộc của chế độ và tất cả thành viên trong gia đình họ. Có thể bạn thấy khó hoặc tự nhủ rằng nếu mình không làm với nó thì thằng khác làm nhưng một khi bạn ý thức được tầm quan trọng của việc này thì bạn có thể hạn chế. Hạn chế được 10% thì nguồn thu của các công bộc sẽ giảm đi 10%, được 50% thì sẽ giảm 50% và đây là đòn kinh tế đánh vào các công bộc này.

Giáo dục cho con cháu chúng ta tinh thần bất hợp tác với Đảng cầm quyền và các công bộc của đảng cầm quyền. Khuyên con cháu không vào Đảng, khuyên chọn ngành nghề nào đó để dễ tìm việc ở các công ty tư nhân,...

Tẩy chay dùng hàng Trung Quốc. Vì các quan chức lãnh đạo đều có lợi nhuận từ hàng hóa Trung Quốc tuồn vào Việt Nam nên tẩy chay hàng Trung Quốc chính là bất hợp tác kinh tế diện rộng đánh vào chính túi tiền của các quan tham.

Tẩy chay dùng những sản phẩm của các công ty mà chủ của chúng là những văn nô bưng bô, tay sai cho chính quyền độc tài. Chúng ta có thể không làm gì được những tay văn nô, bưng bô này nhưng chúng ta được quyền chọn sản phẩm mình tiêu thụ và để trừng phạt chúng thì chúng ta tuyệt đối không sử dụng sản phẩm của chúng. Đây là đòn trừng phạt nặng nề. Ví dụ, cách thức này một số người đã thực hiện cho vụ Ecopark mới đây. Hoặc Techcombank, Bản Việt, Phương Nam là những ngân hàng tập trung nguồn lợi của nhóm 3X thì chúng ta có thể tẩy chay hoặc kêu gọi tẩy chay trong lẫn ngoài nước.

Hạn chế nhu cầu của bản thân và gia đình. Đây cũng là cách bất hợp tác kinh tế. Lực lượng hải ngoại cũng chú ý, nếu các bạn muốn giúp đỡ người thân của mình ở Việt Nam nên hạn chế lại ở những khoản giúp bức thiết nhất.

Đào ngũ.

5.6 Tấn công trực diện

Phương pháp này tạo ra một làn phân cách thật sự giữa hai bên. Có thể có những cách thức giống như Đáp trả nhưng ở đây được tiến hành quyết liệt hơn, đối đầu và sẵn sàng chấp nhận hy sinh và tổn thất nếu có. Nói như vậy không có nghĩa không có cách tấn công trực diện mà vô hại.

Làm việc rõ ràng Chính quyền không thích. Ví dụ việc ứng cử vào Quốc Hội của anh Cù Huy Hà Vũ là một cách tấn công trực diện. Họ phải loay hoay tìm cách xử lý và thường là họ rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan.

Lên án nhà cầm quyền.

Lập một tòa án công khai (e-tòa án) để xử án cả chính quyền hoặc thành viên chính quyền.

Khiếu kiện. Ví dụ, việc anh Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là cách tấn công trực diện.

Khiếu kiện lên tòa quốc tế. Ví dụ như vụ chị Bùi Thị Minh Hằng có thể đưa ra tòa nhân quyền mà kiện. Xác suất thắng chính quyền Việt Nam khá lớn. Và các chế tài của tòa thì không chính quyền nào có thể bỏ lơ được. Cộng sản Việt Nam đã bị mấy vố rồi như vụ ông Trịnh Vĩnh Bình hoặc vụ luật sư người Ý Liberati. Hoặc vụ Lê Anh Hùng vừa rồi, ông ta có thể khiếu kiện chính quyền; nếu không tự làm được thì có thể ủy quyền cho người khác khiếu kiện.

Tuyệt thực để phản đối hay yêu cầu.

Kêu gọi tẩy chay hay biểu tình. Việc tham gia tẩy chay và biểu tình là việc cá nhân mỗi người nhưng kêu gọi tẩy chay thì đó là động thái thách thức với chính quyền nếu điều này nguy hại đến an ninh chính trị và kinh tế của họ.

Kêu gọi các thành viên công quyền như bộ đội, công an, công chức rời khỏi chức vụ và trách nhiệm trong chính quyền độc tài. Điều này có thể làm gãy cơ cấu hệ thống công quyền và làm yếu dần sự vận hành của nó.

Thiết lập bộ máy công quyền song song. Cách này nhằm chứng tỏ cho thấy nhân dân Việt Nam không chấp nhận quyền lãnh đạo của Đảng, chính quyền do Đảng lập nên là ngụy quyền không phải là Chính quyền nhân dân. Cách thức này đã từng xảy ra ở nhiều nước, ví dụ tại nước Nga năm 1993, Quốc hội tuyên bố cách chức Elsin và chuyển giao quyền Tổng Thống cho Ruskôi, nhưng bộ máy hành chính thực sự vẫn nằm trong tay Elsin. Trường hợp của Việt Nam khó xảy ra trên thực tế thì tất cả chúng ta cùng đồng lòng xây một e-Nhà nước có e-Hiến pháp, e-Tư Pháp, e-Hành Pháp. Ví dụ, bước mở đầu chúng ta có thể viết Hiến pháp, sau đó đưa ra tuyên bố như sau: chúng tôi là …. đã chứng thức thông qua Hiến Pháp này và có ký tên thật. Đây là hình thức ngoảnh lưng khỏi Hiến Pháp của chính quyền độc tài.

5.7 Thương thuyết

Tùy vào đối tượng thương thuyết mà chúng ta có thuyết phục chính lực lượng phe đối lập, thuyết phục nhóm chao đảo và thương thuyết với cá nhân hay tổ chức đại diện chính quyền. Thuyết phục chính bên phe đối lập: đề nghị tăng cường mức độ đấu tranh ví dụ là trả thẻ Đảng, đề nghị nắm vai trò lớn hơn ví dụ yêu cầu nắm chức vụ trong e-hành pháp hoặc đề nghị tham gia đấu tranh rộng hơn- ví dụ trước đây chỉ tham dự biểu tình chống Trung Quốc xâm lược thì nay thêm mở blog thông tin đến cho nhân dân những mặt trái của nhiều vấn đề trong xã hội (giống như hai chị Phương Bích và Bùi Thị Minh Hằng đang làm) và sâu hơn-ví dụ trước đây chỉ biết ký tên trong các kiến nghị thì bây giờ có thể viết và khẳng định lý do mình tham dự kiến nghị và bước tiếp theo mình sẽ làm cái gì. Thuyết phục nhóm chao đảo: phân tích cho họ thấy họ có thể tham dự rất đơn giản như tỏ thái độ không đồng tình với chính sách nào đó của chính quyền, trang bị cho họ những kiến thức pháp luật phổ quát để họ tránh được sách nhiễu của chính quyền hoặc chính chúng ta bằng biện pháp tag, share và comment những thông tin chỉ trích rất nhẹ nhàng hoặc vui đùa trên blog của họ. Thương thuyết với cá nhân hay tổ chức của phe chính quyền: phân tích cho họ thấy làn sóng đổi thay không thể nào cản nổi, thuyết phục và kể cả thương lượng với họ ngay bây giờ đây họ cần phải quay về với nhân dân, còn nếu bất đắc dĩ phải phục vụ chính quyền thì phải xa rời những hành động ác hại đến nhân dân để hòng giữ được phần nào uy tín và địa vị trong xã hội vào tương lai (ví dụ ta có thể thuyết phục ông Nguyễn Văn Khanh ở Tiên Lãng).

Tùy vào số lượng người mà ta có thương thuyết với cá nhân hay thương thuyết tập thể. Thương thuyết với cá nhân như gây áp lực kinh tế, chính trị và tình cảm, có thể dùng cách thức khích qua các đối tượng thân thuộc của họ như mẹ, vợ, con cái. Ví dụ, trường hợp đồng chí Cái Tự do Vũ Văn Hiển có thể tạo áp lực chính trị là anh ta sẽ được gắn danh hiệu Tay sai hạng Nhất, hoặc gọi điện liên tục chất vấn vì sao phát ngôn như vậy, hoặc có ai biết đường mẹ và vợ anh ta hay đi lại thì nói bâng quơ kiểu như: “Chà cái ông Hiển ăn nói bậy bạ quá, trên mạng người ta chửi cho không vuốt kịp mặt.”. Trong Thương thuyết tập thể, chúng ta phải tham dự với họ vào các cuộc vui chơi, diễn đàn, tranh luận. Đôi khi chỉ cần gợi mở cho họ bằng những câu hỏi hơi tế nhị nào đó hoặc kể chuyện tiếu lâm có dính dáng đến những vấn đề thời sự trong nước. Ví dụ, trong trường hợp xe chính chủ chúng ta chỉ cần mở Clip “Hitler phản đối xe chính chủ” cho tất cả cùng xem. Nói Thương thuyết tập thể nghe to tát nhưng những việc làm đều nhỏ bé như thế thôi. Quan trọng là liên tục và bám chặt; mỗi ngày một việc bé.

Tùy vào thời điểm mà chúng ta có thương thuyết giai đoạn và thương thuyết chung cuộc. Từng giai đoạn đấu tranh chúng ta có những mục tiêu nhỏ khác nhau vì thế sẽ có những thương thuyết giai đoạn với chính quyền hoặc với công bộc của chính quyền. Ví dụ khi tuyệt thực để đòi giảm án cho anh Điếu Cày, nếu chính quyền chấp nhận giảm án thì chúng ta hiển nhiên kết thúc việc tuyệt thực hoặc điều đó cũng có thể được chấm dứt nếu chúng ta đạt đến mục tiêu nhỏ hơn là chính quyền sẽ cải thiện đời sống trong tù cũng như chế độ thăm nuôi cho anh Điếu Cày. Khi kết thúc một giai đoạn tranh đấu này thì ngay lập tức chúng ta mở giai đoạn tranh đấu khác. Để tránh đổ máu không cần thiết thì những người lãnh đạo cuộc đấu tranh phải tỉnh táo trong thương thuyết chung cuộc (điều này xảy ra cho các cuộc cách mạng màu các nước Liên Xô cũ nhưng không được trọn vẹn ở cuộc cách mạng Mùa xuân Ả rập).

Cần lưu ý là tất cả các phương pháp tùy vào tình hình mà được sử dụng song song hoặc từng phần để tăng dần cường độ hay áp lực lên chính quyền.

6. CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ:

- Người đánh nhịp. Như trên đã nói, điều tối quan trọng của đấu tranh bất bạo động là cần tạo nên cộng hưởng. Phải cần một người, một tổ chức phối hợp hay đánh nhịp. Trước đây, các tổ chức, các website mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy truyền thông. Bây giờ nhu cầu cấp bách của cuộc đấu tranh bất bạo động là cần phối hợp nhịp nhàng. Vậy ta có cần người lãnh đạo cụ thể không? Theo tôi, giai đoạn này không cần. Chỉ cần các trang web nổi tiếng như Dân Làm Báo, Boxitvn.net, Anhbasam, Dân Luận, X-Cà phê, Người Việt cùng với các bloggers nổi tiếng khác như xuandienhannom, Phạm Viết Đào, Quechoa,... thống nhất với nhau sẽ truyền thông những lời kêu gọi, yêu cầu, kiến nghị, thông cáo,... đồng thời. Tuy là không có lãnh đạo nhưng hiệu lệnh của các trang web nổi tiếng cùng sự hưởng ứng các nhân sỹ sẽ tạo nên một e-lãnh đạo tuy vô hình nhưng lại hữu thực. E-lãnh đạo sẽ có hai mặt tốt: thứ nhất, không phải là các Đảng phái trong hay ngoài nước nên tránh được sự kèn cựa bấy lâu nay giữa các Đảng phái với nhau; thứ hai, vì không phải dưới ngọn cờ của đảng nào khác nên các thành viên trong Lực Lượng nòng cốt trong nước cũng không ngại ngùng và tránh được sự đổ bẩn của chính quyền là họ hoạt động bất hợp pháp, là tay sai của đảng này đảng nọ. Tất nhiên, tùy vào nhu cầu và đến lúc chín muồi tự thân phong trào sẽ tìm thấy người lãnh đạo đích thực của mình.

Cần thống nhất với nhau kế hoạch trong đó có những hướng dẫn cụ thể cho cách tỏ thái độ: cách đưa lên blog cho những người còn e dè, các biểu tượng tranh đấu của lần kêu gọi (ví dụ ngày 19.01 thì phải mang áo màu gì, dùng biểu tượng gì...) Nhóm Dân Làm Báo có khá nhiều họa sỹ thiết kế (tôi thích đọc Dân Làm Báo còn vì những tranh biểu tượng từng bài của nó) nên có thể đảm nhiệm khâu biểu tượng. Tôi nghĩ cần sự góp tay của các luật sư để đưa ra những mẫu chuẩn có sẵn để người đấu tranh có thể tin chắc là mình góp phần nhưng sẽ không bị sách nhiễu.

- Tạo một website có tên là Tòa án Nhân Dân (tòa án của chính quyền độc tài tuy gọi là Tòa án Nhân dân nhưng không phải là của Nhân dân) để xét xử tổ chức hay cá nhân phục vụ trong chế độ. Hiện tại, chúng ta nên gói gọn ở các tội danh: bán nước, tham nhũng, tay sai, chó săn, văn nô. Trong website này cũng có phần xây dựng e-Hiến pháp, những tuyên bố phủ quyết những bản án của chính quyền dần cho những người đấu tranh trong nước. Có thể có thêm mục trao giải thưởng giễu cho các cá nhân phục vụ chế độ.

- Tạo một website để bất cứ đảng viên nào cũng có thể tuyên bố trả thẻ đảng CSVN và về với Nhân Dân. Ví dụ có bảng: tên tuổi, quê quán, vào đảng cộng sản ngày nào, trả thẻ đảng vì lý do gì… Theo tôi, quan trọng đối với những đảng viên cộng sản  không phải là cần báo cho đảng biết là mình từ giã đảng cộng sản mà là báo với Nhân Dân biết là mình đã quay về với Nhân Dân. Ở website cũng cần có mục từ nhiệm để các quan chức trong bộ máy công quyền có thể tuyên bố là họ tự nguyện từ nhiệm khỏi chức vụ nào đó và sẵn sàng không nhận bổng lộc của chế độ với một lý do nào đó. Ở trang này ngoài thông tin còn có những lời kêu gọi rời bỏ đảng cộng sản, rời bỏ hàng ngũ công quyền.

- Tiến tới tạo một website gọi là Chính quyền Nhân Dân mà tạm thời cư dân của nó chỉ là những người có đăng ký hoặc những người hay comment trong các website nổi tiếng khác cộng lại. Chính quyền Nhân Dân sẽ tuyên bố vô hợp hiến hay vô hợp pháp những nghị quyết của chính quyền hiện tại. Hoặc Chính quyền Nhân Dân sẽ tranh luận công khai với chính quyền hiện tại những quyết sách đối nội, đối ngoại, an ninh quốc phòng…

- Các website, blogs nổi tiếng bây giờ đã trở thành tài sản quý báu của cuộc đấu tranh bất bạo động vì thế cần phải nhân rộng chúng lên. Các chủ nhân chắc hẳn không có thời gian chăm sóc cho nhiều blog cùng một lúc. Vì thế, những người khác có thể với sự chấp thuận của chủ nhân làm nhiều bản sao khác nhau trên những mạng cung cấp blog nổi tiếng hàng đầu hiện nay.

Tự do và dân chủ không thể nào được ban phát. Phải đấu tranh giành lấy nó. Mỗi người hãy cố gắng góp một viên gạch, một hạt cát bé nhỏ ngay từ lúc này. Tương lai của đất nước, của dân tộc, của con cháu, của tiếng Việt, của văn hóa Việt nằm trong chính hành động của chúng ta hôm nay. Với nỗ lực của tất cả mọi người, tôi tin rằng ngày đoàn tụ với các anh chị em anh hùng Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Đoàn Văn Vươn… sẽ không xa.

ĐỘC TÀI PHẢI BỊ CHÔN VÙI! CHÚNG TA CÓ CHÍNH NGHĨA! CHÚNG TA PHẢI HÀNH ĐỘNG!


Lê G.
danlambaovn.blogspot.com

___________________________________

Đọc thêm:

___________________________________

Tài liệu về bất bạo động:

Robert L Helvey. Về đấu tranh bất bạo động chiến lược: Suy nghĩ về những vấn đề cơ bản. Viện Albert Einstein. Hoa Kỳ. 2004.

Gene Sharp. Những phương pháp hành động bất bạo động.
www.aeinstein.org/organizations/org/OSNC-Vietnamese.pdf

BBC. Trò chuyện về đấu tranh bất bạo động. Lê Quỳnh phòng vấn Gene Sharp
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2006/10/061009_genesharp_interview.shtml

Nguồn từ điển mở wikipedia:
http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A5u_tranh_b%E1%BA%A5t_b%E1%BA%A1o_%C4%91%E1%BB%99ng

(DLB)