Phạm Thị Hoài - Hãy mừng cho sự đa dạng nhiều hơn lo cho sự chia rẽ

23:31 |
NV Phạm Thị Hoài
Bình luận về phát biểu của ông Phạm Hồng Sơn trên BBC Việt ngữ về vấn đề Hiến pháp, trang tin nổi tiếng mang tên Thông tấn xã Vỉa hè của Anh Ba Sàm cho rằng nhà hoạt động dân chủ này đã “dùng thứ từ ngữ lập lờ” để “bài bác“, “miệt thị và xuyên tạc bản chất việc làm của những người khởi xướng Kiến nghị 72“, mà bản thân mình – tức ông Phạm Hồng Sơn – thì chỉ đưa ra một “tiên đoán ngon lành cho tương lai Việt Nam” hoặc “một giải pháp cụ thể duy nhất nghe như mơ” bằng cách “khuyên khéo hàng triệu người bỏ Đảng” chứ “chẳng đưa ra được một phương cách gì cho người dân Việt Nam để cải thiện tình hình“. Trang tin này cũng nhận định rằng ông Phạm Hồng Sơn “diễn giải méo mó tình hình thực tế, trích dẫn què cụt“, “ngụy biện khi thổi phồng thực tế“, “loanh quanh gây lóa mắt người đọc bằng đôi ba kiến thức vặt ‘Đông Tây kim cổ’ làm lạc hướng chủ đề“, “ảo tưởng“, đồng thời xác định ông như một người “giả bộ cấp tiến” để phân biệt với “một con người cấp tiến thực sự” và nêu ra nghi vấn “để có ngày sẽ đi tới kết luận có hay không một ‘nhà đấu tranh dân chủ cuội“.

Cùng với một số nhận định khác, đặc biệt trong đợt thảo luận về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi này, chẳng hạn về trang Cùng viết Hiến pháp, về trang Việt-Studies, hay về cá nhân tôi sau bài “Bao nhiêu ý dân thì đủ“, cũng như sau đề nghị về một “Đặc khu thông tin” và thao tác mẫu cho sản phẩm của một đặc khu như thế, Anh Ba Sàm đã ngày càng làm rõ quan điểm, chỗ đứng, ngôn ngữ và phong cách văn hóa chính trị của mình. Từ đó tôi ngày càng được nhận thấy rằng mình không gần gũi với quan điểm, chỗ đứng, ngôn ngữ và phong cách ấy, dù đánh giá cao cống hiến của trang tin này. Song khác với những lo ngại về sự chia rẽ trong những người thường được coi là cùng chung một mục đích, tôi hoan nghênh việc bày tỏ rõ ràng diện mạo của mình như vậy. Chúng ta đã có một sự đồng thuận bao trùm trên truyền thông lề phải. Không có gì đáng chán và ăn mòn cả tư duy lẫn cảm hứng hơn, nếu lề trái cũng chỉ biểu dương một lòng đồng thuận tràn trề. Chúng ta vẫn giễu cợt rằng 600 tờ báo lề phải chỉ cần một tổng biên tập là đủ, vậy việc lề trái không có chung một tổng chỉ huy như thế là đáng mừng. Chúng ta đã ngấy đến tận cổ chính thống lề phải, song tôi sẽ nói với bạn rằng nếu chẳng may có một chính thống lề trái thì nó cũng rất khó tiêu hóa. Hãy mừng cho sự đa dạng nhiều hơn lo cho sự chia rẽ.

Sau đây là nguyên văn phát biểu trên BBC của ông Phạm Hồng Sơn mà tôi chia sẻ.

Tháng 3 3, 2013

Phạm Thị Hoài

© 2013 pro&contra
_________________

‘Góp ý hiến pháp: hơn một sự ngộ nhận’

Đợt góp ý cho sửa đổi Hiến pháp hiện hành ở Việt Nam đang tiến gần tới thời hạn chót mà Quốc hội và chính quyền do Đảng Cộng sản lãnh đạo đặt ra, nhân dịp này, bác sỹ Phạm Hồng Sơn, nhà vận động cho dân chủ và nhân quyền trong nước, dành cho BBC Việt ngữ một cuộc trao đổi.

Mở đầu cuộc phỏng vấn bằng bút đàm gồm hai phần, ông Phạm Hồng Sơn bình luận về lưu ý gì cần tính tới liên quan trước hết quy trình của cuộc sửa đổi Hiến pháp lần này, trong đó đặc biệt cần lấy gì để đảm bảo người dân có thực quyền và chủ quyền để định đoạt việc lập hiến:

BS. Phạm Hồng Sơn: Trước tiên tôi xin nêu ra hai vấn đề có thể đang bị ngộ nhận, nhầm lẫn lớn trong dư luận về việc sửa đổi hiến pháp. Những bàn luận, thông tin hiện nay gây ra một cảm giác rằng hiến pháp có ý nghĩa quan trọng nhất trong việc xây dựng chế độ dân chủ hay thực hiện, bảo vệ quyền tự do, nhân quyền cho nhân dân và hiến pháp khởi thủy là nhằm xây dựng nhà nước hay là khế ước giữa người dân và kẻ cầm quyền. Nhưng thực sự không hoàn toàn như thế.

Thứ nhất, hiến pháp chỉ là một thiết chế trong nhiều thiết chế của chế độ dân chủ và không có hiến pháp thì không hẳn xã hội sẽ không có (hay thiếu hơn) tự do, dân chủ. Anh Quốc hay Israel không có hiến pháp (đúng hơn là không có bản văn hiến pháp) nhưng đều là những xã hội rất tự do, dân chủ. Hoặc đơn giản hơn nữa, nhìn vào Việt Nam trước năm 1945 dưới thời thuộc địa (cũng không có hiến pháp) thì rõ ràng lúc đó người dân Việt Nam có nhiều quyền tự do cơ bản hơn hiện nay. Thứ hai, nguồn cội của tư tưởng hiến pháp (constitutionalism) không phải là việc xây dựng nhà nước hay là khế ước giữa người dân và kẻ cầm quyền – đó chỉ là sự tiến triển và là hệ quả cụ thể sau này như chúng ta đang thấy – mà nguồn cội của hiến pháp chính là tinh thần thượng tôn pháp luật (rule of law) – tư tưởng có nguồn gốc từ phương Tây từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại và được củng cố mạnh mẽ trong thời Trung cổ châu Âu và tiếp tục trong những thời kỳ sau này- bất kể ai, từ vua tới dân, giáo hoàng cho tới con chiên, đều phải tuân thủ pháp luật – những qui ước chung.
Ngay trong đêm trường Trung cổ, những điển cố về tuyên hứa tuân thủ và thực thi nghiêm ngặt pháp luật của các ông vua bạo chúa như Pepin (714-768), Charlemagne (742-814), Charles the Bold (1433-1477) vẫn còn được sử sách ghi rõ. Hay đơn giản là nhìn vào vụ án Tống Văn Sơ tại Hong Kong năm 1931 ta cũng thấy nguyên tắc ‘rule of law’ được tuân thủ nghiêm ngặt. Dẫu cho pháp luật những thời đó còn nhiều bất công và man rợ nhưng tập quán giữ lời và tôn trọng pháp luật là một di sản vô cùng lớn đã làm nền cho văn minh nhân loại hôm nay.

Chính trên thiết chế ‘rule of law’ đó của phương Tây, hiến pháp với ý nghĩa là một bộ luật chung cho một cộng đồng-quốc gia-dân tộc mới được phát triển. Nhìn lại những bản văn có tính hiến pháp quan trọng của nhân loại như Magna Carta 1215, Fundamental Orders of Connecticut 1638, Hiến pháp Mỹ 1787 hay Hiến pháp Meiji Nhật Bản 1889, dù khác nhau về không gian và thời gian và còn nhiều khiếm khuyết nhưng tất cả đều có chung một đặc tính: những người chủ xướng thảo ra và hạ bút ký đều tuân thủ rule of law và, do đó, tất cả cùng làm thành nền tảng văn minh, tự do cho các thế hệ kế tiếp ở những nơi đó. Nghĩa là về nguồn gốc chỉ khi một nhóm người đã cùng có ý thức tuân thủ nghiêm ngặt những cam kết, nguyên tắc chung (luật) thì mới có hiến pháp và chỉ khi đó hiến pháp mới có ý nghĩa.

‘Vô ích, ảo tưởng’

Nhìn lại cái gốc của hiến pháp Việt Nam hiện nay là gì? Đó là vụ “Ôn Như Hầu”, là bà Nguyễn Thị Năm-Cát Thành Long (ân nhân của Hồ Chí Minh) bị bắn chết tươi, là mấy chục năm trên Cổng Trời của Nguyễn Hữu Đang (người dựng lễ đài khai sinh ra Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), là “rút phép thông công” của Nguyễn Mạnh Tường (tư vấn pháp luật cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), là chín năm tù không án của Vũ Thư Hiên – con trai ân nhân và thư ký riêng của Hồ Chí Minh – lãnh tụ, tác giả chính của Hiến pháp 1946, là bảo người ta đi học tập vài tuần, vài tháng nhưng rồi đưa người ta đi tù mút mùa hàng chục năm hoặc mãi mãi, vân vân và vân vân, vô vàn những đau thương, tủi hờn khác còn ghê gớm, xót xa hơn nữa. Và nếu chỉ tính trong vài tháng trở lại đây, trong đợt “cải cách hiến pháp”, có ai đếm được hết những vụ bất chấp luật pháp, bách hại, sỉ nhục con người tại Việt Nam do chính người cầm quyền thực hiện (?).

Với cái nền “rule of law”, cả từ đáy cho tới hiện tại, như thế thì sao có thể nói đến hiến pháp hay sửa hiến pháp được? Do đó, theo tôi, một cách thẳng thắn, nếu bàn đến xây dựng hay ủng hộ việc cải cách hiến pháp với chính quyền Việt Nam hiện tại là một việc làm kỳ cục, gần như vô ích hoặc hết sức ảo tưởng.

Nhưng bình tĩnh lại, chúng ta cũng cần thấy thế này: chính sự phát triển lâu dài hàng thế kỷ sau đó của hiến pháp trên thế giới và đặc biệt là việc các lãnh đạo độc tài thường xuyên lấy hiến pháp làm mặt tiền (façade) cho cách cầm quyền độc đoán, bất chấp pháp luật (phi thượng tôn pháp luật – rule by law) của họ đã làm cho chúng ta lãng quên mất cái gốc quan trọng của hiến pháp (thực sự) – là rule of law – và làm cho chúng ta rối mù trong cái vòng xoắn luẩn quẩn: Độc tài thời dân chủ – Hiến pháp mặt tiền – Dân chủ giả hiệu – Dân chúng bối rối, mất tự do – Độc tài thời dân chủ.

Dân chúng bối rối vì phản đối thì sẽ bị qui ngay là chống lại pháp luật, chống lại văn minh còn đồng ý, tán thành thì hậu quả như chúng ta đã thấy: một nhà nước vẫn hoàn toàn độc tài còn nhân dân thì bị kìm kẹp, hắt hủi tệ hơn với những hệ thống pháp luật đồ sộ, luôn được cải cách và cũng không kém đẹp đẽ.

Trong khi đó, cả thực tế như ở Việt Nam và các kết luận của giới học giả chính trị, như Hayek hay Dicey, đã chứng minh rõ là ‘rule of law’ phụ thuộc chủ yếu vào thái độ, thiên hướng đạo đức và các hành động chính trị hơn là phụ thuộc vào ngôn từ của các văn bản luật.

Hơn nữa chúng ta cũng không nên kỳ vọng hiến pháp sẽ giải quyết được mọi thứ vì không thể có một văn bản nào dù thành thực, chi tiết đến mấy có thể qui định và đưa ra được các giải pháp luôn đúng cho mọi vấn đề cá nhân và xã hội. Ví dụ, tôi tin rằng ngay cả bây giờ nếu không có hiến pháp nhưng một nhà cầm quyền lương thiện sẽ không bao giờ cấm cản, sách nhiễu, sỉ nhục, vu cho những người xuống đường phản đối quân xâm lược Trung Quốc là gây rối hay không thể nào lại hắt hủi vị tướng già gần 100 tuổi muốn đặt vòng hoa tưởng niệm các binh sĩ đã bỏ mình vì quân Trung Quốc.

‘Không nên khẩn cầu’

BBC: Vậy theo ông nhóm 72 người (đầu tiên) mới đây kiến nghị về cải cách hiến pháp do ĐCSVN đề ra có những ý nghĩa gì?

Đó là việc có thể tăng cường hiểu biết, nhận thức về pháp luật và tập dượt trong việc tập hợp dân chúng. Nhưng nếu chỉ nhằm hai mục đích đó thôi thì những nhân sĩ có uy tín lớn vào hạng nhất như thế lẽ ra không nên khẩn cầu hay kiến nghị cho Quốc hội – cơ quan đã tỏ rõ là vô trách nhiệm với tất cả các vấn đề hệ trọng nhất của đất nước, đã bị thế giới dân chủ gọi là con dấu cao su của ĐCSVN. Nếu các vị đó không cần phải đề đạt, khẩn cầu ai, ngoài dân chúng, tôi tin rằng các vị đó vẫn khởi động được một phong trào nâng cao nhận thức của xã hội về hiến pháp, pháp luật, vừa tập được tính chủ động cho người dân và vừa tránh được mọi sự lợi dụng (chắc chắn đã hoặc sẽ có) của chính quyền và loại hoàn toàn được hiệu ứng (vô tình hay cố ý) tạo thêm tính chính đáng cho một thủ đoạn chính trị lừa dối. Và còn tránh được nhiều hệ quả có thể xấu hơn nữa.

Nhưng nói đến hiến pháp, pháp luật mà không nhấn mạnh, đòi hỏi rule of law, không tố cáo, phản bác sự chà đạp ‘rule of law’, bất chấp hiến pháp thì cũng chả khác mấy với các tuyên truyền của ĐCSVN từ xưa tới nay. Hơn nữa, chúng ta cần hết sức lưu ý rằng ĐCSVN đã luôn chứng tỏ là ông “trùm” trong việc thao túng, lèo lái dư luận, lôi kéo, thao túng quần chúng, kể cả những khi họ chưa nắm chắc quyền hoặc lâm khủng hoảng. Chính đợt “cải cách hiến pháp” này cũng là một ví dụ chứng tỏ ĐCSVN vẫn thừa khả năng áp đặt “lối chơi”. Vấn đề hệ trọng này tôi xin đề cập thêm vào một dịp khác.

BBC:Thế còn ý kiến cho rằng “Kiến nghị 72” có tác dụng ‘hỗ trợ một phe đang muốn đa nguyên trong Đảng’, thì ông nghĩ sao?

Vâng, cũng có thể có manh nha của một sự biến chuyển thành đa đảng. Các phe phái trong ĐCSVN gần như đang hình thành ngày càng rõ và họ còn đã chuẩn bị xong những bước đầu tiên cho sự truyền ngôi cho thế hệ con cháu của họ. Và chính cái nguy hiểm nằm ở chỗ đó vì nếu như thế thì rất có thể Việt Nam sẽ lặp lại tình trạng nước Nga thời hậu Yeltsin như hiện nay và chắc chắn sẽ tệ hơn nước Nga vì Việt Nam là bạn vàng của Anh cả Đỏ phương Bắc. Lúc đó các phe phái độc tài sẽ thay nhau nắm quyền sắt đá, sẽ có truyền thông tư nhân hốt bạc là cánh hẩu của giới chính trị nói tiếng Anh làu làu, lái Rolls-Royce điệu nghệ, còn tự do của nhân dân và chủ quyền quốc gia chắc sẽ được đếm xỉa nhiều ít là phụ thuộc vào sự lên xuống cao thấp của những ly rượu Mao Đài.

Một đất nước thiếu hay yếu về xã hội dân sự và người dân chưa có nhiều thao luyện chính trị luôn là mảnh đất màu mỡ cho độc tài độc đảng hay vài đảng lũng đoạn.

BBC: Ông nghĩ sao về con số được cho là ‘đã có gần bảy nghìn người’, tính tới thời điểm này, ký tên vào “Kiến nghị 72”?

Tôi nghĩ đó là một kết quả rất đáng khích lệ không chỉ cho những người chủ xướng mà còn cho cả những người muốn dân Việt Nam tích cực hơn với các vấn đề chung của xã hội. Nhưng số lượng không phải là yếu tố duy nhất hay yếu tố quyết định cho chất lượng hay xác định tính đúng/sai của một xu hướng/phong trào chính trị nhất là khi quyền lực độc đoán vẫn giữ thế thượng phong, bao trùm trong xã hội. Còn về phân tích thống kê thì những đặc điểm như phân bổ vùng miền, giới, nghề nghiệp, tôn giáo và nhất là trình độ chính trị của người ký và cách thức tập hợp, lấy chữ ký như thế nào cũng là yếu tố không thể bỏ qua khi xem xét tính chất của sự ủng hộ. Đó là những điều tôi chưa biết rõ.

Nhưng chúng ta rất cần lưu ý các cuộc bầu cử do ĐCSVN tổ chức từ năm 1945 đến nay và các cuộc bầu cử ở nước Nga thời hậu cộng sản vẫn là những bài học sâu sắc về số lượng cho chúng ta – những người muốn có dân chủ, tự do đích thực.

‘Sửa hiến pháp-phương thuốc của độc tài’

Nhà vận động cho dân chủ, nhân quyền và cải tổ chính trị ở trong nước, Bác sỹ Phạm Hồng Sơn, cho rằng sửa hiến pháp là một thủ thuật mà ông gọi là “phương thức kinh điển” của các thể chế và các nhà độc tài khi họ muốn “duy trì,” “cố thủ” quyền lực.

Ông cũng cho rằng người dân, kể cả giới trí thức, giới bất đồng chính kiến trong nước, muốn đấu tranh để đạt được dân chủ, nhân quyền thực sự, cũng như giành lại quyền lực đích thực của nhân dân, cần có sự thay đổi ‘chủ động’ và ‘căn bản’ từ tư duy tới chiến lược, chiến thuật trước đảng cộng sản.

Mở đầu phần II cuộc phỏng vấnbằng bút đàm với BBC, bác sỹ Sơn bình luận về một luồng ý kiến cho rằng có thể “có ai đó đang lèo lái và thi triển ý đồ” phía sau lần đưa ra sửa đổi Hiến pháp hiện tại, theo hướng có thể “dùng” lần tu chỉnh như một dịp để “kéo dài thời gian, tạo lợi thế chính trị cho mình” hay thậm chí “đánh lạc hướng xã hội và dư luận.”

BS. Phạm Hồng Sơn:Đặt vấn đề như vậy đã chính là câu trả lời nếu bỏ đi các dấu hỏi, bớt đi dăm chữ và thêm vào chữ “Đảng cộng sản Việt Nam” (ĐCSVN). “Sửa hiến pháp” luôn là một phương thuốc kinh điển của mọi kẻ độc tài trong thời dân chủ mỗi khi chúng muốn tiếm quyền, củng cố lại quyền lực hay vượt thoát khủng hoảng. Chỉ cần xem qua dư luận vài tháng nay thì thấy phương thuốc đó còn khá hiệu nghiệm, gần như tất cả các vấn đề nghiêm trọng khác của đất nước đã bị mờ hoặc biến hẳn trên truyền thông, cả của Đảng lẫn của dân, trước các núi thông tin về hiến pháp – một bản văn chưa bao giờ được ĐCSVN tôn trọng.

Tuy nhiên, nếu chỉ nói như thế thì dễ gây hiểu lầm hoặc làm tổn thương những người thật lòng muốn tận dụng cơ hội này để thúc đẩy tiến bộ thực sự. Nhưng cá nhân tôi rất lo lắng cho những người có thiện ý tiến bộ thực sự đó vì đảng hoàn toàn chủ động trong việc này và đảng có rất nhiều cách thức, nguồn lực để tận dụng ngược trở lại như lèo lái, thậm chí mua chuộc. Những thủ đoạn nhằm tận dụng trở lại đó của ĐCSVN thì chính bản thân tôi và nhiều thân hữu của tôi đã phải trải nghiệm.

‘Góp ý nào ấn tượng?’

BBC: Trong số các ý kiến đóng góp về đợt sửa Hiến pháp lần này, ông thấy có ý kiến nào, của ai, đáng chú ý vì tính thực tế, thực chất của nó?

Ngoài giới đấu tranh ly khai khỏi ĐCSVN, tôi thấy ấn tượng với ý kiến của hai người là ông Nguyễn Trung, đảng viên cộng sản, cựu đại sứ Việt Nam tại Thái Lan và ông Nguyễn Huy Canh một đảng viên cộng sản. Ý kiến ấn tượng của ông Nguyễn Trung đối với tôi là ông đã đi đến nhận định rằng ĐCSVN đang “quyết cố thủ” tính “độc quyền toàn trị đối với quốc gia” và ông nêu quan điểm rõ rằng nếu hiến pháp chỉ sửa đổi sơ sơ như dự thảo thì nên dừng việc cải cách hiến pháp lại. Còn ý kiến gây ấn tượng cho tôi từ ông Nguyễn Huy Canh là ông khẳng định các hoạt động chính trị “không thể lý giải theo cách của các khoa học tự nhiên được.” Nhưng đáng tiếc tôi lại không đồng ý với các giải pháp đề nghị của hai người này. Ông Nguyễn Trung rất trông chờ vào chữ “tâm” của các lãnh đạo đảng, còn ông Nguyễn Huy Canh thì kỳ vọng vào việc luật hóa Điều 4. Sự vô ích của luật hóa Điều 4 (nếu có thể được luật hóa) đã được tôi chứng minh ở phần trên. Còn việc trông chờ vào thiện ý hay tâm nguyện của lãnh đạo lại là một tinh thần thụ động, ảo tưởng hết sức vô lý ở một người đã tự thừa nhận đảng của mình đang “cố thủ” sự độc tài.

Còn về tổng thể, tôi thấy đa phần ý kiến trong dư luận hiện nay vẫn là mang tính khuyến dụ đảng bỏ Điều 4 hay luật hóa Điều 4 với lý lẽ là nhằm để ĐCSVN trường tồn hay chính là giúp để đảng trong sạch hơn, có uy tín hay lấy lại uy tín với nhân dân hoặc bỏ Điều 4 là theo đúng tư tưởng tiến bộ của Hồ Chí Minh. Theo tôi kiểu khuyến dụ đó là không đúng, nhầm lẫn (hoặc thiếu thành thật) về bản chất hiện tượng và không chân thật nhìn từ vị thế của ĐCSVN. Vì nếu bỏ Điều 4 không thôi thì không hẳn đã tương đương với xã hội có đa đảng, có dân chủ, tự do hay ĐCSVN chấp nhận những điều đó. Chúng ta nên nhớ lại trước khi có Điều 4 Hiến pháp năm 1980 thì đảng vẫn hoàn toàn “lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện”. Còn về Hồ Chí Minh, tôi xin khẳng định lại một lần nữa rằng chính thực tế cầm quyền và những phát biểu của Hồ Chí Minh, đã được ghi lại trên các văn bản của ĐCSVN, đã minh chứng rõ rằng Hồ Chí Minh là con người mang tư tưởng độc tài quyết liệt nhưng khéo léo, xảo quyệt.

Còn việc đảng sẽ thấy người khuyến dụ kiểu đó không chân thật là vì ngay một chính trị gia thiếu kinh nghiệm nhất cũng phải hiểu rằng khi bắt đầu phải cạnh tranh với người khác cũng là bắt đầu phải từ bỏ việc kiểm soát tuyệt đối quyền lực. Mà đảng thì lại không phải là một tổ chức chính trị thiếu kinh nghiệm và chính đảng đã nhiều lần tuyên bố dứt khoát rằng không chấp nhận đối lập chứ chưa nói đến việc cạnh tranh. Vì vậy kiểu khuyến dụ đó chỉ có thể mang lại sự an toàn, tính ít đối đầu cho người nói chứ hoàn toàn không có tác dụng để đảng tin cậy vào người nói, sẽ không làm đảng tự từ bỏ độc quyền quyền lực. Mà khi ĐCSVN đã nghi ngờ, vì thấy vô lý, thì đảng sẽ càng phòng thủ và càng tìm ra nhiều cách để đối phó, chống chế, trấn áp cái nguy cơ mà thâm tâm đảng cảm thấy có thể bị giăng bẫy (vô tình hay cố ý) bởi chính những người thân cận với mình. Như vậy, lối khuyến dụ kể trên còn gây tổn hại cho lòng tin, vốn đã yếu, giữa người Việt với nhau.

‘Sự chủ động của dân’

BBC: Theo ông, cả chính quyền, người dân và các giới cần nỗ lực theo hướng nào, nguyên tắc nào và cách thức ra sao để đảm bảo sớm có nhân quyền, tự do, dân chủ thực sự ở Việt Nam, không chỉ giới hạn ở việc sửa Hiến pháp lần này?

Về chính quyền, thú thật tôi không có kỳ vọng gì vào việc góp ý để họ thay đổi hay lắng nghe. Và nếu họ trở nên biết lắng nghe thì những gì mọi người đã nói trong khoảng 5 năm qua thôi cũng đã quá đủ để họ biết cần phải làm gì để đất nước thoát khỏi tình trạng lâm nguy hiện nay. Vì vậy, ở đây tôi sẽ chỉ đề cập đến sự chủ động của nhân dân – những người đang bị kìm kẹp.

Theo tôi trước hết nhân dân cần nhận thức rằng việc xây dựng dân chủ, giành và thực hiện các quyền tự do hay nhân quyền là một công việc phải luôn chủ động và là một quá trình lâu dài, liên tục, phải trải qua nhiều giai đoạn. Đó là công việc của chính mỗi người dân – những người đang bị trị – chứ không phải của bất cứ ai hay bất cứ quốc gia, tổ chức quốc tế nào, dù họ là người tài giỏi hay giàu mạnh, tốt bụng đến mấy. Với tư cách là công dân, ta không nên trông mong ở chính quyền, kể cả chính quyền dân chủ. Trong công cuộc tranh đấu đó, mỗi quốc gia gần như đều có những cách thức riêng để tiến tới tự do nhưng, theo tôi, có những nguyên tắc và những vấn đề chung không thể né tránh.

BBC: Ông có thể cho biết rõ thêm những điểm chung đó?

Chẳng hạn như, nguyên tắc trả giá, hy sinh. Mọi tiến bộ của cá nhân hay xã hội đều buộc phải đi kèm với một cái giá nào đó. Dĩ nhiên hiện nay không ai lại đi cổ vũ và ủng hộ cho đấu tranh vũ trang, bạo động nhưng điều đó không có nghĩa là những cuộc đấu tranh bất bạo động không phải hy sinh, mất mát. Nhưng cái giá đó đắt hay rẻ, lớn hay nhỏ lại tùy thuộc quan niệm trong sự so sánh giữa các cặp giá trị như nhân phẩm-thân thể, tự do-nô lệ, lợi ích gia đình – tiến bộ xã hội hay quyền lợi đảng phái-chủ quyền dân tộc…

Hoặc một đặc điểm chung khác là chúng ta cần phải học và thực hành những đặc tính văn hóa dân chủ. Ví như nếu chúng ta muốn có tam quyền phân lập, muốn có đối trọng về quyền lực thì chúng ta không thể không thấy lợi ích từ sự hiện diện của những tổ chức, ý kiến khác biệt với mình. Nếu nhân dân muốn có một chính quyền biết đối thoại, lắng nghe dân chúng thì chúng ta không thể giữ thái độ im lặng, bất chấp hoặc xúc xiểm, trấn áp những phê bình, cảnh báo của người khác. Hay các đảng phái chính trị là cần thiết trong chế độ dân chủ nhằm vận động, tập hợp dân chúng trong việc cạnh tranh tìm ra lãnh đạo tối ưu và phòng chống độc tài nhưng chúng ta không nên nhầm cạnh tranh chính trị với đầu óc bè phái, cục bộ, quên mất cái mục đích tối thượng của cạnh tranh chính trị là giúp cho chân lý, điều hay lẽ phải không bị kẻ cầm quyền vùi dập chứ không phải là việc trung thành mãi mãi hay cứ cố bảo vệ cho người cùng nhóm, cùng đảng với mình bất chấp phải, trái. Nếu những nét văn hóa dân chủ cơ bản như thế chưa được thấm nhuần và trở thành phổ biến thì rất khó có thể đạt được một xã hội dân chủ, văn minh.

‘Cần thẳng thắn hơn’

Một điểm quan trọng nữa là nhân dân cần thay đổi cách tiếp cận trong vận động, đấu tranh. Chúng ta cần thẳng thắn hơn với ĐCSVN và thành thật hơn với bản thân mình. Chúng ta sẽ không thể thuyết phục được người khác chấp nhận chân lý nếu chính chúng ta lại né tránh hay nói ngược với những sự thật hiển nhiên hoặc lại đặt chân lý xuống dưới an toàn. Nhân dân sẽ không thể đòi hỏi người khác phải dũng cảm rũ bỏ sự khống chế, mua chuộc của Trung Quốc khi chúng ta lại luôn cần một bình phong để che chắn cho chính kiến của mình. Làm sao có thể khiến độc tài đương quyền thức tỉnh “trở về với nhân dân” khi chúng ta cứ thản nhiên dùng hình ảnh, trước tác của cố lãnh tụ độc tài, cựu tướng lĩnh phi dân chủ vẫn một lòng theo Chủ nghĩa Marx-Lenin làm phông cho những kêu gọi, vận động dân chủ.

Chúng ta sẽ không thể có một xã hội tôn trọng pháp luật (rule of law) nếu chúng ta vẫn giữ lối thuyết khách “làm như thế là có lợi cho Đảng, là giúp Đảng tránh sụp đổ chứ không phải lật đổ hay chống Đảng” thay cho việc minh định đơn giản rằng “cần phải làm thế vì pháp luật, vì công bằng”. Chúng ta cũng không thể đòi hỏi người khác phải khí phách trước kẻ xâm lược khi chúng ta lại thế thủ trước họ bằng sự thừa nhận rất mù mờ “có thể có những kẻ lợi dụng để xuyên tạc nhưng không phải ai có ý kiến khác cũng đều là xuyên tạc, phản động.” Hoặc làm sao chúng ta có thể đòi hỏi lãnh đạo ĐCSVN phải biết đặt quyền lợi của dân tộc lên trên quyền lợi của họ khi của cải của chúng ta đã đủ sống cho mấy đời con cháu mà chúng ta vẫn lo bị đảng cắt mất sổ hưu.

Còn về cụ thể, tôi nghĩ, vì mọi nguồn lực và thời gian của chúng ta đều có hạn, chúng ta nên gắng tập trung vào những điều vừa thiết thực lại vừa có tính nền tảng (cả về hàn lâm lẫn thực tiễn) cho một xã hội dân chủ tự do trong tương lai như: quyền ra báo tư nhân, xuất bản tư nhân: Đòi hỏi phải cấp phép hay chính thức thừa nhận (hợp pháp hóa) các trang mạng như Anh Ba Sàm, Bauxite VN, Quê Choa,… các tờ báo “chui” như Tự do Ngôn luận, Tổ Quốc,… nhà xuất bản Giấy vụn,…; quyền tự do đi lại: Không được đưa người đến chặn ở nhà hay lần mò, theo rõi, đe dọa nhằm ngăn chặn sự di chuyển của người dân…; quyền được xuất nhập cảnh tự do: Không được lén lút đưa ra những đòi hỏi, áp lực hay cam kết này nọ rồi mới cấp hộ chiếu hay cho thông quan xuất nhập đối với mọi công dân; quyền tham dự các phiên tòa công khai: Đã là công khai thì mọi người dân phải được bình đẳng vào dự, nhất là người thân của bị cáo, báo chí; quyền gặp gỡ, nhóm họp hay xuống đường tuần hành một cách ôn hòa mà không cần phải xin phép…

Hoặc các vận động rất thiết thực như “Tuyên bố kêu gọi thực thi quyền con người và bãi bỏ Điều 88”, theo tôi, đang đi khá chủ động và đúng hướng nhưng đáng tiếc đến nay lại bị “cải cách hiến pháp” làm chìm đi mất. Những quyền như thế, phần lớn đều đã được qui định trong bản hiến pháp hiện hành, nếu được cải thiện dù ít hay nhiều cũng sẽ là cái thực, cái tốt ngay cho chúng ta hơn là nếu đạt được một bản hiến pháp tuyệt vời đến mấy thì nó vẫn mới chỉ là giấy.

Và có một cách thức nữa tôi muốn nêu ra ở đây vì nếu thực hiện được thì sẽ tạo ra một uy lực chuyển đổi về phía tiến bộ vô cùng lớn mà lại rất ôn hòa, nhẹ nhàng. Đó là quyền từ giã những chiếc thẻ màu đỏ một cách công khai của vài triệu người. Nhưng cho tới nay, ngoài vài người rất đáng kính đã thực hiện, rất tiếc chưa có nhiều người đáng kính khác tỏ ra có dấu hiệu sẽ thực hiện, kể cả những người đã đi tới nhận định cái tổ chức phát ra những chiếc thẻ đỏ đó đã “hư hỏng, suy đồi” hay nó đang “cố thủ độc quyền toàn trị đối với quốc gia.”

Điều cuối cùng, theo tôi, khi xem lại lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến nay với bao mất mát thương đau mà người Việt Nam chỉ được hưởng một chế độ chính trị tàn bạo, ngoan cố thì giới tinh hoa hôm nay cần phải mạnh dạn hơn trong việc khẳng định tư cách độc lập. Giới tinh hoa độc lập thì dân mới độc lập. Dân độc lập thì nước mới độc lập, tự do.

(BBC)

Thư ngỏ của TS. Tô Văn Trường gửi Chủ nhiệm VP Chính phủ Vũ Đức Đam

23:01 |

130129152704_1_304x171_bbc_nocredit 

Dear Anh Đam !
            
Tôi mới nhận được bài viết Bí mật của ông Vũ Đức Đam? bình luận về phát ngôn của Anh liên quan đến dự án bôxit Tây Nguyên. Đây là dự án rất phức tạp, "nhạy cảm" gây chia rẽ lớn nhất trong lòng dân tộc Việt Nam,  cho nên việc có bài báo nói trên cũng không có gì lạ!
              
Bản thân tôi,  kể từ khi còn làm viện trưởng  kiêm bí thư đảng ủy cho đến nay cũng đã có đến 11 bài viết về bôxite dưới các góc nhìn khác nhau để rút ra kết luận dừng sớm ngày nào đất nước đỡ khốn khổ ngày ấy!  Để danh chính ngôn thuận cần có Hội đồng nhà nước gồm các chuyên gia độc lập, uy tín cao, đầy bản lĩnh đánh giá khách quan toàn diện dự án này để tìm lối ra cho những người "đã chót cưỡi trên lưng hổ" vì đó là chủ trương lớn của Nhà nước!
              
Ngoài ra, có những việc nhỏ nhưng dễ bị công luận soi dọi nên tránh như khi về địa phương làm việc phía sau lưng lại dòng chữ "Bộ trưởng chủ nhiệm VPCP về làm việc tại tỉnh..." gây phản cảm không đáng có.
               
Cuộc sống là bất phương trình chứ không phải phương trình. Tôi hiểu và chia sẻ vị trí "trên đe dưới búa" của Anh . Anh Đam còn trẻ, có năng lực và đừng quên rằng nếu linh thiêng, dù ở cõi vĩnh hằng chú Sáu Dân vẫn dõi theo từng bước đi của người học trò, cộng sự  mà chú đã tin cậy.
            
Chỗ thân tình, viết nhanh vài hàng để Anh tham khảo, rút kinh nghiệm nhé.
           
PS. Nhân đây xin lưu ý để Anh rõ, nhóm lợi ích Bộ Giao thông vận tải và ai đó chống lưng "cố đấm ăm xôi" quyết chí động thổ dự án cảng Lạch Huyện mặc dù nhiều nhà khoa học thấy rõ "vết xe đổ" đã nhãn tiền. Đừng để đất nước ta phải ca mãi bài ca con "chuột bạch" khốn cùng!

TS. Tô Văn Trường

(Blog Bùi Văn Bồng)

Võ Tấn - “Thương con chó quá!”

20:23 |
(Ý kiến bạn đọc)

Đọc TTHN được biết có nhiều quan to, cán bộ, nhà văn sĩ…phản biện rất chí tình nhưng nhiều lúc có người lạm dụng “thế” để “đe” người yếu ốm nên tui cũng phải góp vào chút ý kiến cho phong phú. Đôi khi thấy mình làm nông dân khổ như con chó mà bị nhắc nhở chê bai cũng tủi thân.

Thương con chó quá!

Về nội dung bài viết Nguyễn Đắc Kiên hãy ngẫm lại lời mình nói! Ở đây, Tui đứng trên cương vị một nông dân - công dân Việt Nam nói chuyện thời sự bằng chính kiến suy nghĩ. Tui đọc bài viết này rất kỷ, rút ra mấy điều phân tích cái lợi và cái hại khi nhà báo Nguyễn Đắc Kiên viết phản biện ý kiến lời phát biểu của ông TBT Nguyễn Phú Trọng tại Vĩnh Phúc. Tui tiếp thu và hiểu chút đỉnh nên tâm sự mấy lời với tác giả bài viết trên

Câu: “con chó trước khi nằm còn phải cuốn ổ và ngửi chỗ ba lần, con người trước khi nói phải suy nghĩ và uốn lưỡi ba lần rồi mới nói”. Câu nói này tuy có phần thô tục nhưng ngẫm lại đó là một câu nói sâu cay mà ông cha ta đã đúc kết được từ thực tiễn cuộc sống." - Phú nói đúng, có điều dẫn vào bài viết hơi bị “thô”.

Ừ, giá mà ông Phú lớn và ông Phú nhỏ đều nghiên cứu trước khi nói và viết để không gây phản biện xã hội thì là tốt cho bộ máy điều hành chính trị, nhưng ngược lại các ông buộc "con chó phải ngửi" cho nên... đừng dồn con chó vào tường, thương cho con chó quá!

Đoạn: "không biết anh sinh ra và lớn lên ở đâu? sống và học tập trong môi trường giáo dục nào? mục đích anh theo đuổi cái sự học và công việc đó để làm gì? Anh là “nhà báo”, à quên anh đã từng là nhà báo thôi còn giờ thì không anh đã không còn đủ tư cách là nhà báo nữa! là người có trình độ học vấn cao? nhưng theo tôi có lẽ sự am hiểu về lịch sử Việt Nam của anh còn quá ít ỏi, nên mới viết ra những lời lẽ ...". (Phú Vinh)

"Phú quý Vinh quang" này là sản phẩm của CNXH đẻ ra mà, cho nên Phú hỏi mà không biết trả lời, có biết gì nữa đâu ngoài cái lý thuyết Max-Lê học với tư tưởng “tuyệt đối đúng” khi thực tiễn môi trường đã nhiễm chất độc gây ung thư trầm trọng, cũng không biết tự minh thoát ra kêu cứu .

Xin nói với Phú rằng : Tui sinh ra... trước nhà tui đã có cái ao XHCN rồi, cái ao này còn được gọi là ao cá Bác Hồ mà bố tui nhận chăm sóc, nước trong ao bị ô nhiễm do bố tui mua toàn thực phẩm TQ thả xuống. Phú có hiểu không, cá ở trong ao tự nó nhảy lên bờ. Tui xin bố thay nước, tảo ao cho sạch cá mới sống yên ổn được. Bố tui năm nay đã gần 80 tuổi, ông rất kiên quyết “tuyệt đối tin tưởng ở nền văn minh XHCN” của nước bạn mà nước mình đang theo, ổng chẳng chịu đổi thay cách làm nông nghiệp khác.

Đúng là bố tui trung thành tuyệt đối để cuối đời ông được làm “con chó ngửi chỗ nằm” Nếu tui phản bội quê hương thì tui bỏ bố, bỏ luôn cái ao XHCN mà đi chỗ khác từ lâu! Phú có hiểu không,,? à mà quên Phú làm quan to chớ phải nông dân đâu, cắc cớ chi tui đem chiện cái ao ra kể lể.

Thôi ta nói chiện về Kiên nhé! Tui nghĩ Nguyễn Đắc Kiên luôn đủ tư cách là Nhà báo Việt Nam vì anh ấy vẫn làm nghề báo, có điều góc nhìn quyền lực của một xã hội đương quyền nó khác "Nhà báo giác ngộ Cách Mạng" và "Nhà báo giác ngộ không Cách mạng." À mà cái thuật ngữ này tui đố Phú hiểu đó, bởi vì Phú giống như cá nuôi trong cái ao XHCN được chăm sóc bằng lý thuyết mê hoặc một thiên đàng mơ tưởng.

Khi nào rảnh mời Phú đến chơi, xem bà con nông dân lam lũ giữ đất sản suất mà phải vào tù, có điều tiến bộ hơn là nông dân bây giờ có chút ít học hành, không chỉ học theo nền GD XHCN mà họ còn đầu tư cho con cháu sang tận các nước tiên bộ khác, dân trí không còn thấp nữa đâu nhé. Mấy cái ao XHCN đã cổ phần hóa cho nhiều đại gia, rất tiếc là nhà nước trao nhầm cả “đất và nước” cho bọn "lợi ích nhóm" nên đời sống nông dân  thảm lắm.

Phú có quyền cãi lại ý kiến của anh Nhà báo Kiên, không có quyền định hướng cho bất kỳ công dân nào cái quyền tự do con người được “sống và chết” Muốn cãi thì nhớ câu này “con chó trước khi nằm còn phải cuốn ổ và ngửi chỗ ba lần, con người trước khi nói phải suy nghĩ và uốn lưỡi ba lần rồi mới nói”. Người Việt ta có rất nhiều tục ngữ cao dao hay, như “Con vua thì lại làm Vua/Con Sãi ở Chùa đi quét lá đa” Nếu nghĩ thiên đàng “CSCN tuyết đối đúng” thì chắc chắc ông bà tổ tiên ta nhầm to.

Xin lỗi. tui muốn nói rất rất nhiều với Phú… nhưng phải dừng lại thôi vì có thể tui cũng bị người có chức quyền, nắm quyền sinh sát tàn độc cho là “phản động”. Huhu...Trước khi chết tui cũng được thực hiện cái quyền “ngửi”.

Thương con chó quá!

Võ Tấn - Bạn đọc TTHN

Bình An - Vài ý kiến về Kiến nghị 72

19:02 |
Hiến Pháp là văn bản pháp lý cao nhất, là mẹ của mọi bộ luật. Hiến Pháp chú trọng trên quyền, lợi ích quốc gia dân tộc, sự toàn vẹn của lãnh thổ, quyền lợi ích của người dân, phải do dân và vì dân. Hiến pháp cần xác định mục tiêu trước hết là để bảo đảm sự an toàn, tự do và hạnh phúc của mọi người dân thí dụ như các quyền về sở hữu, tự do ngôn luận, xuất bản báo chí, hội họp, cư trú, biểu tình... đi kèm vào đó là các bộ luật tương ứng; đảm bảo các quyền tự do cá nhân nhưng trong khuôn khổ nhất định, không phải thứ tự do vô chính phủ, vô tổ chức, xem thường tính mạng người khác hay xem thường pháp luật. Tạo điều kiện cho xã hội phát triển ổn định theo một trật tự đúng đắn vì tự do, dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ của dân tộc Việt Nam và phù hợp với Tuyên Ngôn Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền năm 1948 và các hiệp ước nhân quyền của quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

Hiến Pháp phải được toàn dân phúc quyết và đảm bảo tính bền vững, bao trùm của nó, đảm bảo xây dựng một nhà nước pháp quyền. Bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Xây dựng một thể chế chính trị, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước dựa trên ý chí chung của nhân dân, thể hiện sự đồng thuận của nhân dân. Những người lãnh đạo đất nước phải đủ đức, đủ tài do nhân dân bàu ra, không phải theo kiểu hiệp thương hay chia nhau ghế… Việc đưa ra “Sửa đổi Hiến Pháp lần này” đảm bảo cho sự tồn tại, vượt qua khó khăn, phát triển đất nước hiện tại và cho sự lớn mạnh của Việt Nam tương lại.

Xin ý kiến nhỏ với “Bản dự thảo Hiếp pháp 2013 trong Kiến nghị sửa đổi hiến pháp 1992 gồm 72 trí thức (hay gọi Kiến nghị 72) do nguyên Bộ trưởng Tư pháp – TS Nguyễn Đình Lộc đại diện ký tên gửi cho UB soạn thảo sửa đổi Hiến pháp được nhiều người chú ý, và sau thời gian vận động đã được hơn 5000 người ký tên ủng hộ. Thiết nghĩ, tại sao khi các vị này đang đương chức, đương quyền thì không thấy ý kiến, ý cò gì?, nay đã hạ cánh an toàn thì lại “sợ bị lãng quên” hay “không còn gì để mất” nên mới “giám” lên tiếng. Nhưng Kiến nghị 72 với dự thảo của các vị sẽ không khả thi.

 Lý do:

1 Dù rằng Khiến nghị 72 do nguyên Bộ trưởng Tư pháp – TS Nguyễn Đình Lộc đại diện ký tên, nhưng trên thực tế Nguyễn Phước Tương đứng đầu khởi xướng, chủ trò (một cựu đảng viên CS, là người tham mưu cho ông TTg Võ Văn Kiệt) lập ra “Đảng nhân dân hành động” của Nguyễn Sỹ Bình ở Mỹ (là đảng con của đảng CSVN), “Đảng nhân dân hành động” đã có công lớn trong việc lôi kéo người Việt từ trong nước, hay ở Campuchia cũng như các nước có tư tưởng chống cộng vào tham gia và sau đó báo cho Công an Việt Nam “làm thịt”, đưa họ vào tù (điều này đã được chính ông Nguyễn Gia Kiểng đứng đầu Tập hợp dân chủ đa nguyên ở Pháp khẳng định). Vì người “chủ trò Kiến nghị 72” là ông Tương Lai (mới chỉ hàm “Phó giáo sư” nhưng trên công luận ông ta luôn tự xưng là “Giáo sư”) với bản chất là người thích khoe khoang, thích thành tích, muốn nổi tiếng và không thoát khỏi “lợi ích cá nhân”, có nhiều người còn cho ông là “gáo hư” và chính ông ta là con rối, giúp chính quyền cọng sản “vỗ mõm trí thức” theo kiểu “khổ nhục kế” vì sự tồn tại của chế độ chính trị Việt Nam… và việc có tới 5000 người ký tên thì chỉ tham gia theo kiểu “hội chứng đám đông”.

2 Thêm vào những người ký tên là nhân sĩ trí thức thì trong đó không ít người có tư tưởng bất mãn (chủ yếu nhóm IDS cũ) thuộc nhóm chủ xướng (nhóm này bị dị ứng, nhảy “tưng tưng” khi bị Thủ tướng Nguyễn Tân Dũng dẹp “IDS- ban nghiên cứu tốn tiền nhưng vô ích” và họ bị mất đi một nguồn bổng lộc đáng kể nên tìm cách phá bĩnh), có người nhân xét sự quấy phá của nhóm IDS là “những con chó phản chủ”, mục đích là “ chơi TTg Nguyễn Tân Dũng” để trả thù. Kiến Nghị 72 vẫn mang tính chung chung, còn rất nhiều ngộ nhận trên những điểm rất cơ bản, không giải quyết được vấn đề “hòa giải, hòa hợp dân tộc”, không đoạn tuyệt với quá khứ thì không thể thu hút nhân tài hải ngoại.

Tuy nhiên tình trạng “gây tiếng vang” trong Kiến nghị 72 chỉ là hình thức, vì các yêu cầu không khả thi, không thể xảy ra trong thời gian tới như: Xóa bỏ Điều 4, yêu cầu Đa nguyên đa đảng, xây dựng thể chế chính trị Việt Nam theo kiểu Mỹ (Tổng thống), đổi tên nước, phi chính trị hóa Quân đội. Do vậy, dù có đưa kiến nghị thế nào thì thực tế “vũ như cẩn”.

3 Kiến nghị 72  không phù hợp với tính chất, tình hình xã hội Việt Nam, những chọn lựa cho tương lai không khả thi chỉ mang tính giật gân, nhưng trong vòng luẩn quẩn. Việc yêu cầu xóa bỏ điều 4 Hiến pháp là một động thái độ để gây tiếng vang xem mình dũng cảm nhưng không phải là sự thật vì họ chỉ dám lên tiếng khi chính quyền đã tuyên bố cho phép đóng góp mọi ý kiến, không giới hạn kể cả ý kiến bỏ điều 4, tức là “nói vậy nhưng không phải vậy”. Trong những vị ký kiến nghị thì đông đảo là những cựu đảng viên, những người này đã từng giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy đảng và nhà nước, các vị này đang hưởng rất nhiều bổng lộc của chính quyền. Dù công khai kêu gọi bỏ điều 4 nhưng thực tế là “rung chuông báo động” nguy cơ mất quyền lãnh đạo của đảng và đề nghị một chế độ dân chủ nhưng vẫn không bỏ được bản chất cố hữu của họ vì “sợ mất sổ hưu”. Kiến Nghị 72 vẫn mang tính chung chung, còn rất nhiều ngộ nhận trên những điểm rất cơ bản, không giải quyết được vấn đề “hòa giải, hòa hợp dân tộc”, về những khái niệm chính trị, cũng như về những chọn lựa cho tương lai.

- Qua Kiến nghị 72 cho thấy bản Dự Thảo Hiến Pháp 2013 nóng vội, có nhiều người cho là hời hợt, dài dòng và thiếu thuyết phục, mang nặng tư tưởng cá nhân công thần và bất mãn. Sự lựa chọn “chế độ chính trị” là “chế độ Tổng Thống” cũng rất ấu trĩ. Vì tình hình chính trị Việt Nam lúc này đang phức tạp, kinh tế khó khăn, nghèo nàn. Tư tưởng vẫn còn mang tính làng xã, dòng tộc, chưa phát huy được tính dân chủ, hiểu biết về xã hội dân sự chỉ được biết đến tính theo đầu ngón tay của một số trí thức. Một xã hội mang nặng truyền thống Á Đông như vậy thì đòi lập nên một chế độ “Tổng thống” thì cũng như không, chỉ là “Bình mới, rượu cũ”, vẫn là tập trung quyền lức và lợi ích cho nhóm người của Tổng thống. Chính vì vậy, Việt Nam không thể thể theo mô hình của Mỹ. Việt Nam chưa hình thành xã hội dân sự theo tiêu chí phương Tây nhằm thực hiện mục tiêu thay đổi chế độ XHCN bằng biện pháp "bất bạo động", "phi vũ trang. Hiện nay, chưa thể “phi quân sự hóa chính trị” và Hoa Kỳ và một số nước Phương Tây chưa thể dùng vũ lực can thiệp vào vấn đề chính trị Việt Nam. Do đó, lợi dụng sự kiện “Sửa đổi Hiến pháp” trên làm phương thức tập hợp lực lượng đấu tranh công khai để đưa ra những kiến nghị nhằm thay đổi thể chế chính trị Việt Nam sẽ không khả thì tại thời điểm này và cả trong tương lai gần (tạm tính cho đến thời điểm các vị trí thức hàng đầu trong Kiến nghị 72 về chầu Diêm Vương).

Hiện tại, tuy trong nội bộ Đảng CS có không ít đảng viên xuống cấp về đạo đức, lối sống, xa rời nhân dân, tạo nên nhóm lợi ích, dẫn đến làm mất lòng tin của dân và ở mức độ nào đó đã cản trở sự phát triển xã hội. Đồng thời, đòi “Đa nguyên đa đảng” nhưng thực chất chỉ nhằm “hợp thức hóa” Đảng “Nhân dân hành động” mà ông Tương Lai có công lập ra, đây cũng thể hiện sự ham muốn quyền lực của ông ta. Tuy nhiên, thực tế lúc này tại Việt Nam chưa thể đa nguyên, đa đảng, vì chưa một tổ chức chính trị, xã hội nào có đủ tư cách để thay thế sự lãnh đạo độc tôn của Đảng CS và Đảng CS vẫn không chịu chia sẻ quyền lực. Như vậy  nếu có đa đảng thì Đảng NDHĐ vẫn nằm trong sự điều chỉnh của Đảng CSVN, nếu không phải như thế thì chính các ông “trí thức hay trí ngủ” đang “mơ giữa ban ngày”.

- Do đó, tôi nghĩ đóng góp ý kiến cho “sửa đổi Hiến Pháp 1992” lần này sẽ được chính quyền Việt Nam chấp nhận và sửa đổi để phù hợp với tình hình thực tế và phù hợp với thế giới cũng như cho tương lai Việt Nam chứ chưa đề cập đến thay đổi thể chế chính trị. Sửa đổi Hiếp Pháp lần này sẽ làm rõ và thực thi những vấn đề cơ bản về “quyền con người”, “sở hữu tư nhân”, “sở hữu toàn dân”, “vai trò của ĐCS”… Vấn đề chịu trách nhiệm của những “đầy tớ nhân dân” sẽ được chú trọng.. điều chỉnh để tránh sự lạm quyền nói chung và cán bộ, cơ quan công quyền và tăng thêm các quyền giám sát của nhân dân cho phù hợp tình hình chính trị Việt Nam.

Xin chào 72 trí thức (trong đó có không ít trí ngủ). Vài lời ý kiến, mong sao các vị đừng “đứng tim” khi không thấy Kiến nghị 72 được thực hiện.

Bình An

* Bài do t/g gửi tới TTHN, được đăng trên tinh thần thông tin đa chiều. Không phản ảnh quan điểm của TTHN

Đinh Minh Đạo - Ông tổng “Bí”

17:13 |
Sau đại hội ĐCSVN gần đây nhất, lần đầu tiên Đảng có một tổng bí thư là một nhà lý luận hàng đầu về chủ nghĩa Max-Lenin và chủ nghĩa xã hội-ông giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Phú Trọng. Những đảng viên trung kiên của Đảng hớn hở mừng vui : ”Từ đây, dưới sự dẫn dắt của tổng bí thư, Đảng ta sẽ không cần dùng đến nhà tù, đến xã hội đen để xử lý những phần tử chuyên viết bài xuyên tạc, nói xấu Đảng và chủ nghĩa xã hội, những kẻ hay tổ chức khiếu kiện, tổ chưc biểu tình phản đối Trung Quốc hay đòi hỏi dân chủ. Đồng chí tổng bí thư, với kiến thức uyên thâm, với lý luận sắc bén sẽ tranh luận, bác bỏ, đánh đổ tất cả những luân điệu của những phần tử nói trên”.

Nhưng đã hai năm trôi qua, ngòai một bài giảng về chủ nghĩa xã hội ở Cuba, nơi mà chủ nghĩa xã hội mang bộ mặt xấu xa chỉ sau Bắc Triều Tiên, ông tổng bí thư dường như im lặng. Ông tránh né những vấn đề thuộc về lý luận cùng những đòi hỏi dân chủ, ông im lặng trước kêu cứu của những người  dân bị ức hiếp, bi oan trái, bị chiếm dụng đất đai, nhà cửa.

Nhưng gần đây ông làm nhiều người bất ngờ. Trên truyền hình tường thuật buổi làm việc với tỉnh ủy Vĩnh Phú, ông nói:

“Vừa rồi đã có các luồng ý kiến thì cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chứ gì nữa? Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ điều 4 hiến pháp không? Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn tam quyền phân lập không?Hả? Muốn phi chính trị hóa quân đội không?Người ta đang có những quan điểm đấy. Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa! Chỉ ở đâu nữa nào? Tham gia khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể, thì nó là cái gì? Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này.”

Nghe cách diễn đạt trên đây của ông, ta tưởng như nghe một cán bộ an ninh phổ biến cho các nhân viên cấp dưới. Ông miệt thị những người góp ý, nêu ra các vấn đề và giao nhiệm vụ cho các đồng chí của mình quan tâm xử lý. Xử lý? Cho người theo dõi, đưa ra tòa bỏ tù về tội tuyên truyền chống nhà nước hay đưa đi các trung tâm cải tạo lao động, thuê xã hội đen đe dọa, đánh đập những người khiếu kiện?

Ông là nhà lý luận, lẽ ra ông phải dùng lý lẽ để phản bác lại những góp ý, những kiến nghị của trí thức và nhân dân đối với hiến pháp như : bỏ điều 4, tam quyền phân lập, đa nguyên đa đảng, phi chính trị hóa quân đội. Nhưng có lẽ ông không đủ lý lẽ để phản bác những lập luận này. Vì đây là những yếu tố để đảm bảo của một thể chế của một quốc gia dân chủ. Đó là những tinh hoa được đúc kết từ hàng ngàn năm, theo sự phát triển của xã hội loài người. Trên thế giới hiện nay, tất cả các nước có nền kinh tế phát triển, người dân nước họ được sống trong tự do, no ấm hạnh phúc đều theo thể chế dân chủ.

Nguyễn Phú Trọng đã được trang bị một mớ lý thuyết cũ rích về chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Chính tại nơi đây, chủ nghĩa xã hội cùng với Đảng cộng sản đã bị nhân dân vứt vào sọt rác của lịch sử. Ông hãy giải thích vì sao chỉ còn lại vài ba nước như Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Cuba, nơi đây đảng cộng sản toàn trị, ép buộc nhân dân xây  dựng chủ nghĩa xã hội, đều là các nước kém phát triển, đa số người dân phải sống trong nghèo đói, mất tự do. Các đảng viên cộng sản tham nhũng tới mức độ “quốc nạn”?

Không đủ lý lẽ phản bác những “luồng ý kiến” nêu trên, ông bỏ tất cả chúng vào một cái giỏ “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”. Thật là nực cười! Ông gọi những công dân có tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, theo lời kêu gọi của Đảng, góp ý với Đảng về sửa đổi hiến pháp là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Phải chăng lời kêu gọi của Đảng là cái bẫy để nhử những công dân, xem ai là những người “suy thoái”?

Nguyễn Phú Trọng đã từng tốt nghiệp ngành ngữ văn Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, nhưng thật ngạc nhiên thấy ông dùng sai ngôn từ. Một sự việc, một quốc gia, một xu hướng chính trị, một nền kinh tế , một con người… được gọi là suy thoái khi trong quá khứ nó đã phát triển tốt, hay đã là tốt, nay trở nên yếu kém, không tốt, thậm chí đi ngược lại những tiêu chí đã được đặt ra trong quá khứ. Thí dụ như Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có thời kỳ đấu tranh vì độc lập dân tộc, nay Đảng đã xa rời mục đích ban đầu của Đảng, đặt lợi ích của Đảng lên trên hết – Đảng đã và đang suy thoái.   Những đảng viên cộng sản trước đây trong quân đội, dũng cảm chiến đấu, nhường cơm, xẻ áo, hy sinh bảo vệ đồng đội, Nay trở về quê hương, giữ những chức vụ trong Đảng và chính quyền, lợi dụng chức vụ đàn áp dân chúng, tham nhũng làm giầu cho cá nhân mình – Những đảng viên này đã suy thoái…

Những công dân dám đứng lên  ký kiến nghị, đòi hỏi Đảng thực hiện thể chế độ đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập, quân đội chỉ trung thành đất nước với nhân dân, không trung thành với bất cứ đảng phái chính trị nào. Đây là những tiến bộ về chính trị của thế giới văn minh ngày nay và những công dân đề xuất những kiến nghị này là những người tiến bộ, không hề suy thoái về tư tưởng cũng như lối sống.

Có lẽ ông tổng bí thư đã bí khi tìm những ngôn từ để gọi những vấn đề và những người đã kiến nghị những vấn đề trên đây, ông đành gán bừa cho họ cụm từ “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”.

Các sỹ phu Bắc Hà và nhân dân Hà Nội gọi ông là ông Trọng “Lú”, Cái tên này nghe “hơi bị phản cảm”. Có lẽ qua sự kiện này, nên đổi tên ông thành ông Trọng “Bí” hay ông tổng bí thư “Bí”, ngắn gọn là ÔNG TỔNG “BÍ”.

Lại nghe đâu, ông là người yêu văn học dân gian từ bé. Luận văn tốt nghiệp đại học của ông  “Chất liệu dân gian trong thơ Tố Hữu” đã đạt điểm cao nhất, sau đó ông được kết nạp vào Đảng, rồi về tạp chí Học Tập, trở thành nhà lý luận hàng đầu của Đảng.

Gía như ông trở thành nhà nghiên cứu văn học dân gian, biết đâu chúng ta lại đươc đọc một vài bài nghiên cứu văn học dân gian , và có thể Đảng sẽ cởi mở hơn, người dân có thể được trả lại quyền sở hữu ruộng đất, sẽ ít những tập đoàn nhà nước làm thất thoát của dân hàng tỷ đô la…

Thật đáng thất vọng về ÔNG TỔNG “Bí”!

Warszawa 27-02-2013

© Đinh Minh Đạo

© Đàn Chim Việt.

Nguyễn Văn Thiện - Cơ hội hiếm có để “một đồng chí trong bộ chính trị” trở thành vĩ nhân!

17:04 |
Không khí dân chủ đang càng ngày càng hiện rõ trên các diễn đàn, “một bộ phận không nhỏ” dân chúng đang “liều lĩnh”, bất chấp sự đàn áp có thể đến bất cứ lúc nào từ phía chính quyền. Cũng có thể thấy, những người đứng đầu đảng cộng sản và chính phủ đang tỏ ra lúng túng, các đảng viên đang có biểu hiện phân hóa nghiêm trọng. Sự lúng túng thể hiện ra trên nét mặt, trong lời nói hớ hênh của người đứng đầu đảng trong những ngày qua.
         
Tuy vậy, theo nhận định của nhiều người, đây lại là một cơ hội hiếm có để “một đồng chí trong bộ chính trị” lập công chuộc tội và thậm chí có thể trở thành vĩ nhân vì có công lao cứu đất nước khỏi thảm họa sụp đổ.
         
Nói “một đồng chí trong bộ chính trị” nghe có vẻ trừu tượng và dễ gây hiểu nhầm đó là đồng chí X. Nhưng không phải thế, có thể là bất cứ đồng chí nào trong “tứ trụ triều đình” đều có thể ra tay ở thời điểm này.
         
Vì sao ư? Vì các đồng chí hưởng thụ như vậy đủ rồi, giàu rồi, sang rồi, sung sướng rồi, đế vương rồi. Bây giờ, hãy thử một lần dũng cảm lên, hô to dõng dạc:
         
Hiến pháp là của dân, do dân quyết định nên phải trưng cầu dân ý để đưa ra kết luận cuối cùng!
         
Đất nước này là đất nước của độc lập tự do, dân chúng có thể tự do bày tỏ chính kiến, tự do thành lập đảng phái, tự do tranh cử!
         
Chỉ cẩn làm được như vậy thôi thì lịch sử dân tộc sẽ ghi tên đồng chí vào sử vàng. Chỉ cần làm được như vậy thôi thì nhân dân sẽ sẵn sàng quên đi những lỗi lầm mà các đồng chí đã gây ra cho đất nước này, dân tộc này.
         
Nếu được như vậy thì xã tắc may thay, các đồng chí may thay và nô tài cũng may thay!!!

Nguyễn Văn Thiện



(Blog Nguyễn Văn Thiện)

Đức Thành - Cần đa Đảng để chống chảy máu chất xám

17:00 |
Vừa rồi báo chí đưa tin có tới hơn 30% cán bộ công chức trong các cơ quan nhà nước có cũng như không. Đây là con số được các cơ quan có trách nhiệm đưa ra.

Chưa hết, tại cuộc họp UBTVQH ngày 26/3/2012 đại biểu Lê Như Tiến (Quảng Trị) đã thẳng thắn chỉ rõ có khoảng 30% cán bộ sau tuyển dụng là làm được việc, 30% phải cầm tay chỉ việc, còn hơn 30% mặc dù cầm tay chỉ việc vẫn không biết làm.

Theo báo Dân trí ngày 13/12/2012 thì Nhà nước mà cụ thể là Nhân dân phải đóng thuế nuôi 6.600.000 cán bộ công chức “vô tích sự” nếu không muốn nói là họ không có tư duy, không có chất xám tràn lan trong các công sở, cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước… Đây có phải là một biểu hiện của ngành kinh doanh quyền lực siêu lợi nhuận mà nếu đa đảng thì ngành này sẽ không còn đường sống nên một số người có chức quyền trong Đảng đang quyết tâm dựa vào thứ lý luận đảng trị, chuyên quyền độc đoán, mặc dù họ luôn luôn thừa nhận Đảng của họ có một bộ phận không nhỏ thoái hóa biến chất và họ cũng chẳng đưa ra một lộ trình nào khắc phục được vấn đề này để dân tộc, đất nước tin tưởng ở họ.

Còn về tình trạng chảy máu chất xám thì sao? Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tình trạng chảy máu chất xám một cách nghiêm trọng. Theo Đài tiếng nói nước Nga ngày 2/10/2012 thì Việt Nam chúng ta có khoảng 400.000 chuyên gia có tay nghề cao đã bỏ nước ra đi. Những chuyên gia này là các chuyên gia hàng đầu của các ngành công nghệ cao, hầu hết những người này không quay trở lại quê hương… Đó là chảy máu chất xám ra nước ngoài. Còn chảy máu chất xám trong nước? Khi mà các học sinh, sinh viên khá giỏi từng tu nghiệp tại nước ngoài hoặc các cơ sở đào tao uy tín trong nước khi ra trường không thèm làm việc trong các cơ sở của Nhà nước như các viện nghiên cứu, các trường đại học, các công sở hay các doanh nghiệp Nhà nước… số vì lý do lương thấp chỉ rất nhỏ mà quan trọng hơn là vì họ không muốn đem kiến thức phục vụ cho những cái đầu rỗng tuếch ngồi ghế trên họ, họ không muốn bè phái ô dù... và phần nào họ nghĩ rằng không thể sống, cống hiến, làm việc chung cùng lũ “vô tích sự” kể trên.

Trong quá khứ, Việt Nam cũng đã từng có nhiều đợt chảy máu chất xám như nạn vượt biên sau chiến tranh, sau việc đánh đổ tư sản mại bản tại miền Nam. Trong chặng đường đầu tiên xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH và hàn gắn vết thương chiến tranh, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã sa thải bằng hình thức cho nghỉ việc “một cục” hơn 78 vạn lao động lành nghề và ngày nay mặc dù không có thống kê chính thức nhưng số người lao động có tay nghề cao, cán bộ có năng lực tiếp tục muốn xin ra khỏi khu vực Nhà nước để làm ngoài…

Thường những người giỏi sẽ có tính độc lập, sáng tạo. Trong môi trường Đảng lãnh đạo toàn diện thì những người này không bao giờ có đất sống, nên tỷ lệ những người này bị trù úm là rất cao, khiến họ chỉ còn cách là ra khỏi môi trường Nhà nước để được yên thân. Đến nay không có con số thống kê nhưng thỉnh thoảng báo chí lại nêu các trường hợp bị đuổi việc, kỷ luật oan sai. Còn phía Đảng và Nhà nước không hề có một lời giải thích, hay nhận trách nhiệm gì về việc này.

Lý giải nguyên nhân của hiện tượng này được một số người có trách nhiệm trong Đảng giải thích là do “tồn tại lịch sử”. Còn đại bộ phận nhân dân thì không hề thấy có một lý do nào thể hiện đó là vấn đề lịch sử. Vậy phải có những nguyên nhân nào khác?

Gây nên tình trạng chảy máu chất xám có rất nhiều nguyên nhân, mà bao trùm lên nó là nguyên nhân độc Đảng, biểu hiện của nó là chuyên quyền độc đoán, bè phái, lợi ích nhóm, coi công việc của quốc gia dân tộc là công việc của riêng Đảng, coi thường trí thức, gạt bỏ ý kiến ngay thẳng, nuôi dưỡng bọn nịnh bợ xu thời, làm ngơ trước những oan trái trong nhân dân, để mặc việc chạy chức chạy quyền, chạy án âm ỉ biến tướng dưới nhiều hình thức và từ nhiều năm nay không chịu khắc phục. Số cán bộ Đảng viên có chức có quyền giàu có bất chính, trong khi đại bộ phận quần chúng nhân dân ngày càng nghèo đi. Tư liệu sản xuất của nông dân không được đảm bảo. Các tập đoàn tổng công ty Nhà nước làm ăn thua lỗ, nợ nước ngoài chồng chất, hệ thống pháp luật vừa thừa vùa thiếu, vừa yếu, chỉ có lợi cho Đảng, bộ máy Nhà nước thì cồng kềnh, quan liêu, trì trệ…

Những thực trạng như thế và nguyên nhân đã được những công dân có trách nhiệm đủ mọi thành phần từ nông dân đến trí thức chỉ ra cho Đảng để có cách khắc phục hữu hiệu nhất nhằm đưa đất nước, dân tộc tới hùng cường giàu mạnh. Nhưng tiếc thay một số người có trách nhiệm không chịu tư duy, suy nghĩ một cách chính chắn hoặc đem thảo luận kỹ càng mà chưa gì đã chụp mũ những ý kiến đóng góp chân thành và khoa học, khách quan của mọi người dân.

Những người cầm quyền hiện nay đang vô tình hoặc vì một lý do nào đó không chịu nắm bắt xu thế của thời đại, nắm bắt các vận hội mới để khắc phục những yếu kém khuyết điểm nên đã đẩy đất nước ta thụt lùi, tụt hậu một cách nghiêm trọng. Thụt lùi về mọi mặt từ ý thức hệ, cho đến khoa học giáo dục, kinh tế… Họ hằn học với tất cả những ai muốn dùng mọi tiềm năng sức mạnh dân tộc để xây dựng đất nước, họ hằn học với những người dám chỉ ra khiếm khuyết mà họ gây ra cho dân tộc, đất nước này.

Vậy chỉ còn cách đa Đảng, đa nguyên, mở cửa dân chủ để phát huy mọi tiềm năng thành phần trong xã hội phát triển đất nước và việc này phải được ghi nhận trong Hiến pháp mới. Bằng không, đất nước ta, dân tộc ta mãi mãi đi sau tụt hậu so với các nước trên thế giới..

 Đức Thành

(BVN)

Viết từ Sài Gòn - Sửa đổi Hiến pháp 1992 – trò diễn kịch hợm hĩnh cuối cùng?

16:02 |
Bỏ điều 4 Hiến pháp hay không bỏ điều 4? Câu hỏi này được xem là nổi cộm nhất trong lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 này, ngoài ra, những vấn đề về luật đất đai, vấn đề dân chủ cũng được đặt ra. Nhưng, suy cho cùng thì cốt lõi của sửa đổi, bổ sung Hiến pháp vẫn nằm trong điều 4.

Cục diện đất nước, vị thế chính trị quốc gia và đường hướng kinh tế của nhiều năm sau cũng nằm trong quyết định thay đổi hay không thay đổi điều 4.

Thử đặt giả thiết nếu thay đổi điều 4? Trong trường hợp này, các vấn đề về dân chủ, sở hữu đất đai sẽ không cần nhắc đến nữa. Vì một chính thể đa đảng sẽ không còn yêu cầu về tính độc tài, độc quyền và nhân danh một thứ sở hữu toàn dân, nhà nước quản lý nào để thao túng quyền lực và tài sản của nhân dân.

Mọi sự liên quan đến sở hữu quốc gia sẽ được minh bạch, công khai trong chế độ dân chủ đa nguyên, những gì liên quan đến tài sản quốc gia và quyền lợi đất nước sẽ được giám sát bởi các đảng phái đối lập và cả đảng cầm quyền.

Và, một khi không còn tính sở hữu toàn dân, thì sẽ dẫn đến kết quả toàn dân được sở hữu, được xác lập quyền sở hữu căn bản về đất đai cũng như những gì có liên quan đến nó. Vấn đề dân chủ, nhân quyền cũng sẽ phát triển trong chế độ không còn độc đảng, độc tài.

Trong trường hợp ngược lại, điều 4 Hiến pháp không thay đổi hoặc có thay đổi về mặt hình thức nhưng nội dung vẫn như cũ? Đây sẽ là một cú sốc tiếp theo của lịch sử Việt Nam.

Vấn đề nhân quyền, dân chủ sẽ còn bị che lấp bởi chế độ Cộng sản độc tài, tự do ngôn luận hay sở hữu đất đai chỉ là những chân trời viễn mộng, không bao giờ vói tới được.

Vì để đàm bảo cho sức mạnh độc tài, đảng cầm quyền sẽ không đời nào trả quyền sở hữu đất đai hoặc mở rộng dân chủ, nhân quyền cũng như tự do ngôn luận cho nhân dân.

Không cần lý luận nhiều, vì nếu họ đủ bản lĩnh và niềm tin để làm điều này thì họ đã chấp nhận dân chủ, đa nguyên từ lâu lắm rồi.

Một khi trả quyền sở hữu đất đai về tay nhân dân, nhà nước Cộng sản sẽ gặp vô vàn khó khăn trong vấn đề đền bù, giải tỏa đất đai vì đây vốn là điểm cực nhạy của chế độ, đồng thời cũng là khoảng trống dễ kiếm tiền nhất, dễ tham nhũng nhất và dễ cướp cạn nhất mà đảng đã dùng với nhân dân mấy mươi năm nay.

Mọi việc chỉ cần nói “nhân danh toàn thể nhân dân” là xem như xong, nhân dân phải ngậm bồ hòn dù biết mình đang bị đối xử bất công.

Và, một khi để nhân quyền, dân chủ cũng như tự do ngôn luận được phát triển, lúc đó sự sợ hãi trong nhân dân sẽ giảm đi, thậm chí được triệt tiêu, tinh thần phản tư, đặt ngược vấn đề về tính chính danh, tính ổn định hay “trung tâm” sẽ được nêu thành câu hỏi.

Hơn bao giờ hết, mọi vết nhơ của đảng cầm quyền sẽ dễ dàng phơi ra ánh sáng công luận trong một đất nước có tự do ngôn luận.

Chính vì thế, tất cả những trò diễn kịch như: Chọn thời gian trưng cầu dân ý đúng vào ngay dịp Tết Nguyên Đán để nhân dân không có thời gian theo dõi hay tham gia; Thay vì cơ quan lập pháp soạn thảo dự thảo sửa đồi Hiến pháp thì lại giao công việc này cho Ban Tuyên giáo và Ban lý luận trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đảm nhận, Quốc Hội, Chủ tịch Quốc Hội và Ủy ban Thường vụ Quốc Hội chỉ đóng vai trò con bù nhìn không hơn không kém vì mọi điều khoản được soạn thảo và dự tính công bố đều không phải do cơ quan này thực hiện.

Dường như vai trò then chốt trong lần sửa đổi này lại rơi vào tay Ban lý luận Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam. Mà ban này được Trung ương đảng Cộng sản sắm ra chỉ để cho một mục đích duy nhất là lý luận và chứng minh chủ nghĩa Cộng sản là đúng, hoàn hảo và duy nhất đảng Cộng sản lãnh đạo đất nước là một “tất yếu lịch sử”.

Đó là chưa nói đến thành phần nhân dân, cử tri đóng góp sửa đổi gồm những ai? Các ông bà đảng viên hưu trí, những cựu đảng viên khét tiếng bôn-sê-vic trong quá trình công tác phục vụ đảng và những người “được chọn lọc” để tham gia góp ý.

Trên thực tế, nói là tham gia gióp ý nhưng theo dõi trên các trên các kênh truyền hình trong nước thì cái gọi là “cử tri tham gia góp ý sửa đổi Hiến pháp” này là một đội ngũ tuyên truyền viên Cộng sản trá hình.

Mọi lần “góp ý” phát trên truyền hình trung ương và địa phương đều không thấy góp ý gì ngoài việc các ông, các bà đứng lên ra rả khen chế độ Cộng sản là ưu việt và tuyên bố hung hồn rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân là một tất yếu lịch sử!”.

Tất cả những dấu hiệu trên đều cho ra một đáp án duy nhất: Nhà nước Cộng sản Việt Nam lại tiếp tục diễn kịch (dù rất lố bịch!) về tính dân chủ trong sửa đổi Hiến pháp 1992. Nhưng trên thực tế là để tuyên truyền, duy trì quyền độc tài, độc đảng thông qua điều 4 (trá hình bằng thứ hình thức khác).

Vì sao họ lại làm như thế? Vì trên thực tế, chưa bao giờ chủ nghĩa Cộng sản lại rơi vào bế tắc như hiện nay, đặc biệt là trong tình thế mà chế độ độc tài đã lộ rõ chân tướng của một con quái thú khác xa bản chất loài người tiến bộ.

Nếu lựa chọn một cách công tâm, chẳng ai đủ ngu ngốc để chọn thể chế Cộng sản lãnh đạo đất nước, và kinh tởm hơn là Cộng sản độc tài.

Trong trường hợp này, giả sử có một sân chơi chính trị tiến bộ, sòng phẵng, chắc chắn đảng Cộng sản không có cơ hội tồn tài trên mọi nghĩa trong thế giới tiến bộ này.

Chính vì thế, chỉ còn một cách lựa chọn duy nhất cho họ là phải độc tài, độc đảng bằng mọi giá. Và, muốn độc tài thì phải duy trì điều 4 Hiến pháp bằng mọi cách, chỉ có như thế mới có cơ hội bóp chặt tự do, dân chủ, nhân quyền cũng như cắt đứt tự do ngôn luận, cắt đứt những phản ánh có tính truyền thông về sự sai trái, tội ác và khủng hoảng của Cộng sản.

Nhưng, làm như thế liệu có đảm bảo được quyền lực của họ hay không? Xin thưa là dù có bỏ thêm vào sau điều 4 một điều 5, 6 hoặc điều N nào đó để nâng cao, thít chặt sự độc tài, độc đảng của chế độ Cộng sản trên đất nước Việt Nam, cục diện lịch sử vẫn không thay đổi, vì lịch sử có qui luật riêng của nó, nó được xây dựng và hình thành bởi một dân tộc chứ không bởi một phe nhóm nhỏ lẻ nào.

Trên tình thần này, hơn ba triệu đảng viên Cộng sản (gồm cả những đảng viên cấp tiến) có làm cách gì để duy trì “con thuyền độc tài” cũng khó mà lường được sóng gió từ “thủy triều nhân dân” với dân số xấp xỉ 90 triệu người.

Cộng sản càng cố gắng duy trì độc tài càng cho thấy rõ hơn rằng khả năng tồn tại một cách bình thường của họ rất kém, nếu không nói là không có. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp nghe ra còn mang thêm một dự cảm thay đổi lịch sử nào đó đang âm ỉ, khó lường!

Viết từ Sài Gòn
27-02-2013

(RFA Blog's)

Nguyễn Đắc Kiên - Về một vài định kiến tai hại

23:24 |
(TTHN) - Đọc bài này mới thấy ông Nguyễn Đắc Kiên cực kỳ ngây thơ trong chính trị, nếu như không phải ông ta cố tình, khi ông đặt câu hỏi "Nói xấu Đảng và Nhà nước là phản động à?" trong lúc ông đang sống trong XH cộng sản. Đấu tranh không có nghĩa là sẵn sàng hy sinh bằng mọi giá, mà phải là tồn tại bằng mọi giá để đấu tranh, mong ông Kiên nhớ lấy.

Mỗi người chúng ta sinh ra ở trên đời là một sinh thể tự do. Mẹ cha – quê hương cho ta lời ru – giọng nói, nuôi dạy chúng ta khôn lớn, trưởng thành. Chúng ta có đi gây thù chuốc oán với ai đâu, mà sao lúc nào cũng “phải hỏi bạn thù, phải lo diễn biến”?

Mấy ngày qua, tôi phải giải thích cho một số bạn về hai chữ “phản động”. Thế nào là phản động? Nói xấu “Đảng và Nhà nước” là phản động à? Vậy hàng trăm báo, đài trong nước, rồi cả một số vị lãnh đạo của ĐCS cũng luôn miệng gọi các đài, báo nước ngoài là “phản động” thì không phải là nói xấu, là miệt thị họ đó sao?

Vậy ai mới là phản động?

Không ai cả. Tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta cần suy nghĩ lại để thay đổi một vài nhận thức đã thành xưa cũ. “Phản động” là một trong số đó. Theo suy nghĩ của tôi, không có ai là phản động cả trong các trường hợp kể trên. Chỉ có những ý kiến khác biệt, thậm chí đối nghịch. Đó là lẽ thường. Chỉ có các nhóm, các đảng phái khác biệt, thậm chí đối lập. Đó cũng là lẽ thường.

Tôi coi ĐCS Việt Nam cũng như mọi đảng phái chính trị khác đã, đang và sẽ tồn tại trên đất nước Việt Nam. Tôi coi mọi đài, báo nước ngoài, như mọi đài, báo ở Việt Nam. Tôi nhìn nhận sự khác biệt về quan điểm nếu có của các đài, báo này như một lẽ thường tình. Không đài, báo nào là phản động cả.

Tôi cho rằng, muốn tất cả ngồi lại được với nhau, để cùng đối thoại thì đầu tiên phải xoá bỏ những rào cản nhận thức, như với hai chữ “phản động” bàn ở đây. Mọi người dân cần được giải thích rõ để hiểu rằng, không có ai là phản động cả. Nhưng trước tiên, tôi cho rằng, các nhà hoạt động dân chủ trong và ngoài nước phải đi đầu trong việc xoá bỏ nhận thức này. Các bạn phải khẳng định rõ ràng, chúng tôi không phản động. Chúng tôi khác biệt, đối lập với ĐCS VN, nhưng không phản động.

Khi điều này được xác quyết thì cách đặt vấn đề tự nhiên cũng sẽ khác đi. Khi đó tất cả sẽ đặt trong một trạng huống đối thoại sòng phẳng, không có chỗ cho sự phỉ báng, hằn học, quy chụp nặng nề của tất cả các bên.

Danh sách những người ký vào Bản Tuyên bố Công dân Tự do chẳng nhẽ không nói cho chúng ta điều gì sao?

Bản tuyên bố đâu có lời lẽ nào là tố cáo, là phỉ báng, là hằn học với ĐCS VN đâu? Ấy thế mà từ chị nội trợ, đến anh kỹ sư, từ bác giáo sư, đến cô bác sỹ… đều nhất loạt ký vào. Trong số 2.100 người ký tính đến tối 2/3, người Việt ở nước ngoài chiếm đa số tuyệt đối. Đấy chẳng phải là chỉ dấu cho mong muốn xoá bỏ hận thù, tức giận? Chẳng phải là chỉ dấu cho thấy người Việt ở khắp nơi đang mong mỏi cho một cuộc hoà hợp dân tộc nay mai hay sao?

Vì vậy, tôi kêu gọi tất cả mọi người Việt nam, ở trong hay ngoài nước, hãy xóa bỏ hết đi trong suy nghĩ của mình, nào là “phản động”, nào là “diễn biến hòa bình”, “thế lực thù địch”… Những thứ đó không đáng để tồn tại như một nỗi ám ảnh với một dân tộc yêu chuộng hòa bình và tự do như dân tộc Việt Nam.

Thân mến,

Nguyễn Đắc Kiên

(Blog Nguyễn Đắc Kiên)

Hiếu Dân - Tâm thư gửi bác Nguyễn Phú Trọng

17:40 |
                                Hà Nội, ngày 2 tháng 3, 2013

Thưa bác,

Cháu tuy đã hơn 40 tuổi rồi, nhưng cháu vẫn xin phép gọi bác là bác và xưng cháu để tỏ lòng kính trọng, không chỉ là vì tuổi tác mà còn vì bác là niềm hy vọng của nhiều người trong hoàn cảnh nhiều đảng viên cộng sản và đặc biệt là những đảng viên giữ cương vị cao cấp trong đảng, nhà nước và chính phủ có sự sa sút nghiêm trọng và có hệ thống về đạo đức, tư cách, gây phẫn uất trong nhân dân, làm suy đồi chế độ và làm hủy hoại đất nước.

Thưa bác,

Trước đây rất nhiều người, trong đó có cháu đặt rất nhiều hy vọng vào bác, một lãnh tụ trong sạch của đảng cầm quyền. Phải nói đây là một hiện tượng cá biệt trong đội ngũ lãnh đạo đã bị hoen ố ở nhiều mức độ khác nhau trong nhiều năm qua. Cháu đã nghe người ta nói về sự trong sạch của bác từ ngày bác còn làm ở ban tuyên huấn của đảng, sau đó về làm bí thư Hà Nội, rồi quốc hội, và hiện nay là Tổng bí thư. Cùng với sự trong sạch, bác cũng là một người nổi tiếng gương mẫu, không kéo bè kéo cánh, không cục bộ địa phương. Khi bác được bầu làm tổng bí thư, nhiều ý kiến cho rằng vì bác là người như vậy và rất tiếc như vậy là đồng nghĩa với hình ảnh là người không có vây có cánh, và cũng không muốn hoặc không có khả năng tạo vây cánh sức mạnh cho mình trên vị trí bác là “vua” tại Việt Nam này (xin lỗi bác cho phép cháu dùng những hình ảnh nôm na để diễn tả ý tứ cho ngắn gọn).

Nói cụ thể hơn là ít nhất bác là người “vô hại” đối với những kẻ xấu trong đảng. Theo họ, bác đang và sẽ không có quyền lực thực sự vì không có vây cánh, không có các nhóm lợi ích ủng hộ. Tóm lại bác là vị vua vừa không có “tiền”, lại vừa không có “súng”. Mọi người còn nhận định thêm rằng bác được bầu vào vị trí này vì các nhóm lợi ích trong đảng không ai chịu ai và hơn thế nữa bác còn làm cho hình ảnh bên ngoài của đảng bớt đi sự nhơ nhớp để những kẻ xấu lại tiếp tục âm thầm đục khoét làm mọt rỗng chế độ, làm mọt rỗng nền kinh tế của đất nước. Thú thực, cháu không tin nhiều vào những nhận định này vì cháu hy vọng là quá khứ của bác như ông “bụt”, hay những người tếu táo gọi bác là “lú” chỉ vì bác ở trong tình thế “thế thời phải thế”. Khi bác đã ở vị trí vua rồi thì bác sẽ phải khác! Và nghị quyết 4, 5 của ban chấp hành TW ra đời đã củng cố thêm niềm hy vọng này của cháu và mọi người. Có ý kiến còn cho rằng bác sẽ thực sự là lãnh tụ xứng đáng không những của đảng mà còn của dân tộc vì bác không chỉ là người lãnh đạo của đảng mà còn của dân tộc vì bác sẽ lãnh đạo đảng và nhân dân quét sạch được hiện tượng tham nhũng đang tràn lan trong đảng, một căn bệnh đang hủy hoại nhanh chóng đất nước! Ngay cả khi bác có bài phát biểu với nội dung thật sự là “giáo điều” tại Cuba, thì nhiều người cũng biện hộ là bác dùng sách lược này nhằm tranh thủ tối đa nhiều người cao tuổi mà tư tưởng giáo điều đã thấm sâu vào máu thịt để hỗ trợ bác trong cuộc chiến làm trong sạch đảng mà bác đã công khai khởi động thông qua nghị quyết 4. Ngay cả đến hội nghị TW 6 kết thức với một kết quả làm bàng hoang niềm hy vọng vào bác (cháu xin phép không nhắc lại những phản ứng của dư luận mà chắc là bác đã nghe đủ), nhưng vẫn còn một số ý kiến còn vớt vát lấy niềm tin và hy vọng vào bác là “hãy thông cảm cho TBT vì ông ta vốn nằm trong một ốc đảo, nay phải đứng mũi chịu sào nên đã không đủ kinh nghiệm để lường trước các tình huống khi mà tham nhũng đã trở thành một thể chế bất thành văn của bộ máy cầm quyền”!. Rằng nếu TBT mà làm mạnh tay hơn nữa trong hội nghị TW 6 thì bộ máy cầm quyền sẽ tan vỡ, đất nước sẽ hỗn loạn và Việt Nam có thể phải rơi vào hoàn cảnh giống nước Nga vào những năm cuối của thế kỷ 20 đã qua! Khi đã làm khó tránh khỏi mắc sai lầm, nhưng khi đã sai lầm rồi phải biết tỉnh táo và dũng cảm tìm phương án tối ưu để hạn chế tối đa tác hại. Đây là những lời biện hộ của những người đã đặt nhiều hy vọng vào bác. Mọi người cho rằng chắc chắn bác sẽ thấy một khi “đảng đang có vấn đề”, “ban chấp hành trung ương đang có vấn đề” thì bác sẽ dựa vào toàn đảng và đặc biệt là toàn dân để tạo sức mạnh cho công việc vô cùng phức tạp và cam go mà bác đang giương cao ngọn cờ! Song thực tế phũ phàng đã dập tắt mọi hy vọng của một số người còn có niềm tin với bác. Cụ thể liên tiếp trong thời gian gần đây, kể từ sau hội nghị TW 6, bác có các bài nói chuyện với nhiều nội dung được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng, thì dư luận đều thấy cái giáo điều trong lời nói của bác đã vào “xương tủy của bác rồi”, bằng chứng là bác đưa ra những nhận định, lời kêu gọi mà cháu xin nói thẳng là rất khó có thể biện minh rằng đó không phải là những lời giả dối, ngụy biện, luẩn quẩn về tư duy, và rất vô ý thức với lòng dân!

Thưa bác,

Cháu cũng là một đảng viên đảng cộng sản, cũng có trình độ cao cấp về chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng nhìn vào lịch sử đảng cộng sản quốc tế và của nhiều nước trên thế giới, thì phải đau xót mà thưa rằng “Chủ nghĩa Mác Lênin đã bị bóp méo và làm sai lệch ngay từ sau khi Lênin qua đời! Các vị lãnh tụ cộng sản thế giới thực chất đã phản bội lại chủ nghĩa Mác Lênin từ rất lâu. Họ đã sử dụng chủ nghĩa Mác-Lênin để phục vụ cho tham vọng độc tài của họ. Họ đã không tuân theo nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Họ đã sẵn sàng xuống tay giết hàng triệu đồng đội, đồng bào của họ chỉ vì những đồng đội, đồng chí này không hoàn toàn nghe theo họ, thậm chí có “khả năng” không nghe theo họ! Thực ra cháu hiểu cụ Hồ của chúng ta cũng là một trong những nạn nhân của họ, xong cháu hiểu cụ Hồ trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ đã phải lựa chọn “chấp nhận cái xấu ít để tránh cái xấu nhiều”, tức là phải dựa vào Liên Xô và Trung Quốc để giành độc lập và thống nhất tổ quốc. Cái giá phải trả cho việc này là rất nhiều, đài báo đã đưa ra công khai từ việc cải cách ruộng đất đến việc chỉnh huấn chỉnh quân, hay việc để bị thụ động trong hiệp định Genever đến 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không, rồi Polpot, rồi chiến tranh biên giới…

Thưa bác,

Cháu cũng sinh ra trong một gia đình cách mạng yêu nước, gia đình cháu cũng có nhiều người đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, và cũng có nhiều người “di tản bất hợp pháp, hiện đang sống ở nước ngoài”. Cháu được sinh ra và lớn lên trong cái nôi của cách mạng (một thuật ngữ hay được sử dụng). Cháu ý thức được rất nhiều rằng dân tộc ta, trong đó có một thời nhiều người cộng sản làm đầu tàu đã xả thân vì dân vì nước. Hàng nhiều triệu con người đã hy sinh cho độc lập dân tộc và thống nhất đất nước dưới lá cờ của đảng. Cháu cũng rất tự hào là một công dân của một dân tộc anh hùng. Cháu luôn nhớ tới 5 điều bác Hồ dạy thiếu niên “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào … Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”. Càng tự hào, càng ý thức được những điều tốt đẹp mà đất nước và dân tộc đã mang lại cho mình, thì cháu càng phải dũng cảm, phải không bác! Cháu hiện nay cũng ở cương vị “có chức, có quyền”! Cháu và nhiều người khác đang sẵn sàng xả thân vì đất nước, vì dân tộc! Vậy bác có nghĩ rằng một khi đảng ta, mà bác là người đứng đầu, không tự sửa chữa được căn bệnh của đảng hiện nay (cháu không muốn dùng chữ khuyết điểm) thì người dân mà trong đó có cháu và nhiều đảng viên khác cũng sẽ phải vùng lên để làm việc đó. Lúc đó sẽ là đầu rơi, máu chảy vì súng ống và quyền lực đang nằm trong tay rất nhiều kẻ xấu. Kết quả là dù muốn hay không thì chính những đảng viên có chức có quyền và bệnh hoạn hiện nay, dù ít hay nhiều, sẽ bị lịch sử đưa vào danh sách là những kẻ phản quốc, hại dân, và chính họ là kẻ đứng ra chôn những người đồng đội của mình, những người cha, người anh của mình một lần nữa! Lúc đó, dân tộc sẽ phán xét đảng cộng sản mà bác đang là người đứng đầu như thế nào đây! Cháu phải kêu lên một lần nữa rằng, bác, với tư cách là Tổng bí thư, hãy đừng để điều đó xảy ra! Hãy đừng để lực lượng xấu trong đảng thách thức thêm lòng tự hào và tự tôn dân tộc của người Việt Nam. Bác hãy đừng để cho những lực lượng xấu, tư tưởng hủ bại biến đảng ta (cháu không muốn dùng chữ đảng cộng sản vì cái tên này chỉ mới xuất hiện sau cuộc kháng chiến chống đế quốc thực dân và thông nhất đất nước mà thôi), thành một đảng thoái hóa hủ bại, đi ngược lại lợi ích của dân tộc, tổ quốc, bằng sự sắp đặt, cưỡng chế, thậm chí đàn áp bạo lực. Bác đừng nên mơ hồ về ý chí quật cường của dân tộc ta, họ sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh của hàng triệu con người đã hy sinh cho tổ quốc làm cái ngụy trang, che đậy cho sự hủ bại về đạo đức và tư tưởng nhằm duy trì sự thống trị của họ bằng các biên pháp chuyên chế, giáo điều, độc tài tàn bạo vô liêm sỉ.

Kính thư,

Hiếu Dân

ngày 2-3-13

(viet-studies)

Bùi Tín - Biết đủ là khôn

17:25 |
do 
Ở đồng bằng Nam Bộ, trên bàn thờ Tổ tiên ông bà của bà con ta trong ba ngày tết thường có mâm hoa quả với bốn loại trái cây: mãng cầu, dừa, đu đủ và xoài – hay nói tắt theo giọng Nam Bộ là “cầu vừa đủ xài”.

Bà con ta không thích giàu sang ư? Ở một vùng vựa lúa phì nhiêu, cá tôm phong phú, hoa trái xum xuê, làm giàu làm gì cho phải bận tâm suy nghĩ, rồi còn phải lo giữ của. Cứ sống vừa đủ, cầu cho không thiếu thốn nghèo đói là được. Đây là suy nghĩ của đa số nông dân thuộc tầng lớp trung gian đông đảo. Họ thấy nhiều đại điền chủ ruộng đồng thẳng cánh cò bay đâu có sung sướng. Con cái họ giàu sang đâm ra ham mê hưởng lạc, ăn chơi cờ bạc, trai gái bất lương, có khi sa vào tệ nạn nghiện hút, kiện cáo dây dưa, án mạng và tù đầy, gia đình đổ vỡ. Rồi nhà giàu hay đèo bòng thê thiếp, gia đình lộn xộn, lắm bi kịch éo le và ly tán, đâu có hạnh phúc bền lâu.

Triết lý minh triết xưa của cha ông ta cũng dạy rằng người quân tử tự mình biết bao nhiêu là vừa đủ, không ham mê gì cho nhiều, biết hạn chế lòng tham, vì tham dễ phạm vào lợi ích của người khác, dễ thả lỏng mình lấy của phi nghĩa làm của mình. “Tri túc tri chỉ”. Biết đủ là biết dừng lại. “Tri chỉ tri phúc”. Biết dừng đúng lúc là biết hưởng phúc vậy. Các cụ nhà nho còn nói “tri túc túc trí”, biết bao nhiêu là đủ chứng tỏ là người có trí khôn, giàu bản lĩnh, hiểu biết làm người giữa thiên hạ.

Trong nước đang nổi lên 2 vấn đề cực lớn, một là sửa đổi, viết Hiến pháp mới và chống nạn nội xâm tham nhũng dai dẳng bất trị. Ở đây nổi lên vấn đề loại bỏ Điều 4 quy định việc xác lập quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản. Trên thế giới không có hiến pháp nước nào có điều khoản áp đặt như thế. Đây là món nhập cảng từ Điều 6 của Hiến pháp Liên Xô cũ – toàn bộ Hiến pháp này đã bị hủy cuối năm 1990. Uy tín và sự tín nhiệm của một chính đảng được chứng tỏ trong từng thời gian bởi lá phiếu, không thể quy định một lần trong Hiến pháp là xong. Chính vì thế đã có 4.843 (nay đã là 6.612)  trí thức hàng đầu yêu cầu loại bỏ Điều 4, thảo Hiến pháp mới, một việc làm chưa từng có, chính đáng, hợp lẽ phải, hợp lòng dân. Vậy mà một cán bộ lãnh đạo, Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Văn Thông dám nói bừa rằng những trí thức nói trên đang đi theo các thế lực phản động.

Một học giả Hoa Kỳ gốc Trung Quốc Pei Minxin vừa nhận định trên báo The Diplomat (Nhà ngoại giao) rằng trong thế kỷ XX, chế độ độc đảng ở Liên Xô kéo dài nhất là được 73 năm (1917 – 1990), khó có nước độc đảng nào có thể thọ lâu hơn. Chế độ độc đảng ở Việt Nam đã được 68 năm (1945 – 2013), ở Trung Quốc được 64 năm ( 1949 – 2013), nghĩa là đều gần tới giới hạn cuối cùng.

Tốt nhất là tại các nước ấy, các đảng Cộng sản nên biết thời gian độc quyền cai trị của họ thế là quá đủ, để tự mình quyết định trả lại tự do chính trị đầy đủ cho toàn dân, cùng toàn dân thành tâm xây dựng nền dân chủ đa đảng lành mạnh, tiến bộ, cùng toàn dân xây dựng Kỷ nguyên Dân chủ và phồn vinh cho toàn dân cùng chung hưởng. Làm được như thế mới thực là “tri túc tri chỉ ”, biết là đủ, biết dừng lại là “tri túc túc trí“, chứng tỏ hiểu biết, có bản lĩnh và khôn ngoan, tránh cho đất nước những xáo trộn đáng tiếc, thậm chí những đổ vỡ tai hại.

Đối với quốc nạn tham nhũng cũng vậy. Cả hai nhiệm kỳ Quốc hội gần 10 năm bất lực rõ rệt trong cuộc chiến đấu sinh tử, không những không đẩy lùi được tên giặc này như đã hứa, mà còn để nó lớn lên gấp bội, làm thất thoát thêm gần 1 triệu tỷ đồng mồ hôi nước mắt của nhân dân. Thế là quá đủ để các vị hiện còn tại vị tự nguyện mạnh dạn cùng nhau rời vị trí lãnh đạo như đã hứa, để bầu ra một Quốc hội đa đảng, một chính phủ mới thực sự của dân,do dân, vì dân. Còn phải đợi đến bao giờ nữa?

Đây cũng là vấn đề “ tri túc tri chỉ “, biết là đủ, quá đủ, biết dừng lại, biết liêm sỷ, xin lỗi dân, cũng là “tri chỉ, túc trí “, biết dừng lại, nhường ghế lãnh đạo và cầm quyền cho người khác, cũng là khôn ngoan, có hiểu biết vậy.

Còn đối với những bầy sâu tham nhũng lúc nhúc loại loại cỡ bự ở những bậc thang quyền lực cao chót vót, hay ở trong đám sâu phàm ăn, phàm múc, phàm nuốt trong ngành hải quan, thuế má, giao thông, nhà đất, tòa án… lại càng phải hiểu ra cái lẽ của sự “quá đủ“. Tham quá có khi mất mạng đấy; ăn căng bụng có khi bội thực. Đất nước bỗng nảy sinh ra hàng ngàn tỷ phú mới, hàng ngàn triệu phú đôla mới, phất lên do mánh mung quyền lực, buôn quan bán tước, đầu cơ đất đai nhà cửa, buôn lậu ngọai tệ. Chúng ăn chơi phè phỡn, con cái hư đốn, làm ô nhiễm toàn xã hội. Chuyện kê khai tài sản cán bộ đảng viên và gia đình cứ như trò đùa dai, trò phủi bụi của trẻ con, khiêu khích người dân lương thiện. Đối với những bầy sâu đội lốt người này, hãy hiểu cho sâu sắc thế nào là “quá đủ”, nếu không sẽ là quá muộn. Căm thù giặc tham nhũng của nhân dân không kém gì căm thù kẻ thù xâm lược và bành trướng đâu.

Xã hội ta đang xuống cấp, chia rẽ, phân hóa, người ăn không hết kẻ lần chẳng ra, bọn gian manh ngồi trên đầu người lương thiện. Toàn dân cần phải công khai nói lên nhận xét của chính mình đối với đảng và chính quyền, rằng để cho tình hình suy thoái tận cùng như hiện nay là quá đủ rồi đấy. Sức chịu đựng của người dân là có hạn.

Chỉ có một phương án duy nhất có hiệu quả là thay hẳn hệ thống quản lý, cai trị từ độc quyền đảng trị sang hệ thống dân chủ hiến trị và pháp trị như tuyệt đại đa số nước dân chủ pháp trị trên thế giới hiện nay, không thể để lỡ thời cơ đang xuất hiện là toàn dân tham gia khởi thảo một Hiến pháp hoàn toàn mới, từ bỏ con đường cải lương của Bộ Chính trị, chỉ có những thay đổi mini, lặt vặt, vô bổ .

Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đảng, và gần năm trăm đại biểu Quốc hội không thể làm ngơ là hiện có 2 bản dự thảo trình làng, 1 do Quốc hội đưa ra và 1 do 74 trí thức nòng cốt đề xuất. Mới qua thăm dò sơ bộ, bản dự thảo của trí thức đã được hơn 80 % người xem tán đồng, trong khi bản dự thảo do Quốc hội đưa ra chỉ đạt 3 % đồng thuận, theo thông báo có trách nhiệm của mạng Bauxite. com.

Thế là đủ, là quá đủ để so sánh, để lựa chọn phương án tối ưu nào cho đất nước. Xin nhớ 4.843 , nay là  6.612 trí thức ký tên về bản Hiến pháp mới trong có hơn 3 tuần lễ, đã gấp 13  lần số đại biểu Quốc hội hiện nay.

Tất cả những thủ thuật lừa dối, vu cáo trí thức yêu nước nói trên là thế lực thù địch cũng đã quá đủ rồi.

© Bùi Tín

Nguồn VOA